CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CUNG CẤP DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CẢNG NỘI ĐỊA 1. Khái quát về quản trị dịch vụ Logistics và các doanh nghiệp Logistics tại các cảng cạn 1. Quản trị dịch vụ Logistics 1. Dịch vụ Logistics Logistics xuất hiện từ những năm 60-70 của thế kỷ XX tại các nước phát triển trên thế giới.
Trải qua dòng chảy lịch sử, logistics phát triển nhanh chóng, trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và ở quốc gia trên thế giới. Được nghiên cứu và áp dụng sang lĩnh vự kinh doanh, dưới góc độ doanh nghiệp, thuật ngữ “Logistics” thường được hiểu là hoạt động quản lý chuỗi cung ứng hay quản lý hệ thống phân phối vật chất của doanh nghiệp đó. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics, tuy nhiên trong lĩnh vực kinh tế có một số khái niệm khá phổ biến như sau: Theo Tài liệu của Liên hợp quốc sử dụng cho khoá đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức và quản lý logistics tại trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội tháng 10/2002: “Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra thành phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng”. Theo Hội đồng quản trị Logistics của Mỹ có đưa ra định nghĩa: “Logistics là một phần của dây chuyền cung ứng, thực hiện hoạch định, thực hiện và kiểm soát dòng lưu chuyển, tồn trữ hàng hoá, dịch vụ và thông tin có liên quan một cách hiệu quả, hiệu năng (effective, efficient) từ điểm đầu đến điểm tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng”.TS Đoàn Thị Hồng Vân trong cuốn “Quản trị Logistics”: “Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”.
Như vậy, dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt và cách trình bày, nhưng trong nội dung tất cả các tác giả đều cho rằng “Logistics chính là hoạt động quản lý dòng Luan van 8 lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng.Mục đích giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hoá một cách kịp thời”. Tuy nhiên ở đây không chỉ có sự vận động của “nguyên vật liệu, hàng hoá” mà cần phải bao gồm thêm cả dòng luân chuyển “dịch vụ, thông tin”. Logistics không chỉ hạn chế trong sản xuất mà nó còn liên quan đến mọi tổ chức bao gồm chính phủ, bệnh viện, ngân hàng, người bán lẻ, người bán buôn… Dịch vụ logistics Nếu như hoạt động logistics là một chức năng hỗ trợ trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì dịch vụ logistics được hiểu là một loại sản phẩm dịch vụ do nhà cung cấp là các doanh nghiệp logistics bán cho khách hàng và thu phí dịch vụ logistics. Khách hàng ở đây là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp xuất nhâp khẩu hoặc các cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics.
Theo Luật Thương mại Việt Nam thì “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận tư vấn khách hàng, đóng góp bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thoản thuận với khách hàng để hưởng thù lao”(mục 4, điều 233, Luật Thương mại 2005) Đặc điểm của dịch vụ logistics + Tính vô hình: Cũng như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ logistics mang tính chất vô hình. Vì vậy, chỉ khi khách hàng sử dụng dịch vụ thì họ mới có thể cảm nhận và đánh giá được chát lượng của dịch vụ thông qua các tiêu thức như: thời gian giao nhận, độan toàn của hàng hóa, thủ tục chứng từ có đúng quy cách, rõ ràng hay không. +Tính không tách rời: Đặc tính này thể hiện ở quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ logistics diễn ra đồng thời. Sự diễn ra đồng thờ này đã đến khó khăn cho việc dự đoán những rủi ro có thể xảy ra.
+Tính không lưu giữ được: Do tính chất vô hình và không thể tách rời giữa quá trình cung cấp và sản xuất dẫn tới dịch vụ logistics không thể dự trữ được mà chỉ được sản xuất và cung ứng khi có nhu cầu của khách hàng. Chính điều này tạo Luan van 9 nên sự mất cân đối cung - cầu về dịch vụ trong những thời điểm khác nhau, tình trạng dư cầu vào thời điểm chính vụ là những tháng cuối năm khi nhu cầu giao nhận, vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu tăng mạnh. Do tính không thể lưu giữ được nên các dịch vụ logstics không được sản xuất trước, vì vây khi cầu dịch vụ tăng mạnh các doanh nghiệp logistics không thể tối đa hóa năng lực sản xuất kinh doanh khi xảy ra tình trạng dư thừa nhân lực, các trang thiết bị máy móc không được sử dụng đến trong khi tình trạng khấu hao vẫn xảy ra,. + Tính không đồng đều về chất lượng: Chất lượng dịch vụ logistics rất khó để tiêu chuẩn hóa được bởi bản thân dịch vụ logistics phụ thuộc vào yếu tố như: yếu tố máy móc, thiết bị, điều kiện môi trường do không gian cung ứng có tính phân tán, ngoài ra chất lượng dịch vụ logistics còn phụ thuộc vào trình độ quản trị kinh doanh, khả năng kiểm soát quá trình cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp, sự đanh giá của khách hàng, đối thủ cạnh tranh.
Do bản thân dịch vụ logistics phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vậy cho nên chất lượng dịch vụ logistics sẽ dễ dàng bị biến đổi khi ít nhất một trong các yếu tố đó có sự thay đổi. Ngoài những đặc điểm chung thì dịch vụ logistics còn có một số đặc điểm riêng như sau: + Tính tích hợp cao: Tính tích hợp là khả năng phối hợp các hoạt động lại với nhau, tạo ra môt hệ thống thống nhất có khả năng hỗ trợ, tương tác lẫn nhau. Từ đó đạt được hiệu quả cô hơn so với hoạt động riêng lẻ. Hiện nay khi nền sản xuất kinh doanh và thương mại hiện đại có tính tích hợp ngày càng cao thì với vai trò là hoạt động hỗ trợ cho hoạt động thương mại, dịch vụ logistics cũng phải mang trong mình đặc tính này để có thể phát triênr và đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
Tính tích hợp cao của dịch vụ Logistics được hiểu theo hai chiều hướng. Thứ nhất là dịch vụ logistics có tính tích hợp cao với hoạt động thương mại quốc tế do dịch vụ logistics là một trong những hoạt động hỗ trợ cho hoạt động giao lưu, thương mại,. giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ thì logistics là bên thứ ba kết nối các giao dịch, kết nối bên bán và bên mua và cung ứng các dịch vụ hỗ trợ cho Luan van 10 các dòng di chuyển hàng hóa để đáp ứng nhu cầu thương mại của các bên và đòi hỏi tính chuyên môn hóa cao. Thứ hai là yêu cầu tích hợp các hoạt động logistics với nhau.
Một là sự tích hợp tồn tại trong một doanh nghiêp, nghĩa là các doanh nghiệp logistics sẽ tích hợp các dịch vụ riêng lẻ của mình thành các gói dịch vụ để cùng một lúc có thể cùng cung cấp dịch vụ riêng lẻ của mình thành các gói dịch vụ để cùng một lúc có thể cùng cung cấp nhiều dịch vụ cho khách hàng. Hai là sự tích hợp của nhiều doanh nghiệp logistics trong ngành, không phải doanh nghiệp logistics nào cũng có đủ khả năng về nguồn lực để có thể cung cấp cho khách hàng đầy đủ các dịch vụ trong chuỗi dịch vụ logistics. Cho nên việc lựa chọn cộng tác, liên minh với các doanh nghiệp khác trong ngành để có thể nhận được sự hỗ trợ, tận dụng các lợi thế và sử dụng các nguồn lực nhàn rỗi của nhau để phát triển là phương án tốt nhất có thể tăng tính hiệu quả trong kinh doanh cho các doanh nghiệp logistics. +Mạng lưới phân phối rộng: Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động thương mại đang trong xu hướng toàn cầu hóa vì vậy thị trường kinh doanh mở rộng và phát triển mạnh mẽ dẫn tới việc đòi hỏi các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics phải có mạng lưới cung ứng đa dạng ở nhiều vị trí, nhiều phạm vi ở các quốc gia và các vùng lãnh thổ để có thể đáp ứng yêu cầu mua bán trong nước và quốc tế như hiện nay.
+ Hiệu quả dịch vụ logistics bị ảnh ưởng bởi trình độ công nghệ và quản lý: So với các dịch vụ khác thì việc ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật vào trong quá trình kinh doanh và cung ứng dịch vụ logistics là rất quan trọng. Bản thân hoạt động logistics luôn đòi hỏi phải hoạt động dựa trên các phần mềm công nghệ thông tin, kỹ thuật để có thể kết nỗi thông tin giữa những khu vực trên thế giới từ đó có thể hạn chế một số khó khăn về khoảng cách địa lý, cũng như để điều hành một khối lượng rất lớn công việc đòi hỏi cần phải xử lý trong khoảng thời gian ngắn. Quản trị dịch vụ logistics Quản trị dịch vụ logistics là quá trình hoạch định, thực hiện, kiểm soát và đánh giá một cách có hiệu quả hệ thống cung ứng dịch vụ logistics nhằm đáp ứng cao nhất nhu cầu của các nhóm khách hàng mục tiêu và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Luan van 11 Thức chất hoạt động quản trị dịch vụ logistics chính là hoạt động quản trị sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, vì dịch vụ logistics chính là loại sản phẩm vô hình mà công ty cung ứng cho khách hàng.
Hoạt động quản trị này được định hướng không chỉ dựa vào việc phân tích các biến số marketing như giá, phân phối, xúc tiến, con người,. mà còn dựa trên những đặc trưng riêng biệt của dịch vụ logistics. Do đặc điểm của dịch vụ logistics gắn liền với quá trình cung ứng hay sáng tạo ra nó và quá trình này quyết định chất lượng và toàn bộ các công đoạn hình thành nên dịch vụ. Vì vậy cần nghiên cứu hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ logistics để phân định mức độ ảnh hưởng và vai trò của các nhân tố trong hệ thống đến kết quả quản trị dịch vụ logistics.