Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu: Giới thiệu lí do chọn đề tài, mục tiêu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu, làm rõ vai trò của quản trị dịch vụ cho thuê kho bãi. Chương 2: Cơ sở lý luận của hoạt động quản trị kho hàng trong doanh nghiệp: Trình bày các lý thuyết cơ bản, nội dung quản trị dịch vụ cho thuê kho bãi và các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài và bên trong. Chương 3: Phân tích thực trạng của quản trị dịch vụ cho thuê kho bãi của Công ty Cổ phần VIMC Logistics: Thực trạng quản trị dịch vụ cho thuê kho bãi của CTCP VIMC Logistics theo các nội dung ở cơ sở lý luận, bao gồm cả các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân. Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất với quản trị dịch vụ cho thuê kho bãi của Công ty Cổ phần VIMC Logistics: Đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị dịch vụ cho thuê kho bãi.
18 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN TRỊ DỊCH VỤ CHO THUÊ KHO HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP 2. Khái quát quản trị kho hàng trong doanh nghiệp 2. Khái niệm quản trị dịch vụ logistics Theo D. Lambert (1998), World Marinetime University định nghĩa logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ tới nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Đồng quan điểm đó, Hội đồng Quản lý chuỗi cung ứng - CSCMP (Council of Supply Chain Management Professionals, 2006) định nghĩa logistics là một phần của chuỗi cung ứng với nhiệm vụ lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát lưu lượng và lưu trữ hàng hóa, dịch vụ hiệu quả, đồng thời nắm bắt các thông tin liên quan giữa điểm xuất phát và điểm tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Tại Việt Nam, khái niệm dịch vụ logistics được chính thức hóa trong Luật thương mại năm 2005 (Điều 233) và nghị định 140/2007 ND – CP, quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Filho và Souki (2007) định nghĩa dịch vụ logistics là một chức năng đạt được từ việc quản lý các biến số hoạt động của hệ thống logistics, chẳng hạn như quy trình đặt hàng, vận chuyển và lưu kho, vạch ra những cách kết hợp giữa định vị giá, khuyến mại, sản phậm và kết hợp với marketing của tổ chức. Hay theo David J.
Bloomberg (2002) cho rằng quản trị logistics tích hợp việc lập kế hoạch và kiểm soát các hoạt động liên quan đến thu mua, chuyển đổi và các hoạt động quản trị logistics khác. Như vậy, dựa trên cơ sở khái niệm dịch vụ logistics, trong luận văn này khái niệm quản trị dịch vụ logistics là quá hoạch định, thực hiện, kiểm soát và đánh giá một 19 cách có hiệu quả hệ thống cung ứng dịch vụ logistics nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhóm khách hàng mục tiêu và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Khái niệm và vai trò của kho hàng Kho hàng là cơ sở logistics, được xây dựng tại địa điểm đảo bảo các điều kiện nhất định; để thực hiện việc dự trứ, bảo quản và chuẩn bị hàng hóa nhằm cung ứng cho khách hàng với mức dịch vụ thích hợp và chi phí tối ưu. Nói một cách chi tiết thì kho hàng là một bộ phận của hệ thống logistics, là nơi cất giữ nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm… trong suốt quá trình chu chuyển từ điểm đầu đến điểm cuối của dây chuyền cung ứng, đồng thời cung cấp các thông tin về tình trạng, điều kiện lưu giữ và vị trí của hàng hóa được lưu kho.
Kho hàng là nơi trực tiếp thực hiện nhiều hoạt động logistics như bảo quản, cung ứng nguyên vật liệu, dự trữ bán thành phẩm, thành phẩm, chuẩn bị lô hàng theo yêu cầu sản xuất và phân phối của doanh nghiệp. Do đó, kho hàng có các vai trò sau: Đầu tiên, kho hàng đóng vai trò đảm bảo tính liên tục quy trình sản xuất và phân phối. Hiện nay, thị trường có nhiều biến động khó lường và có thể biến thiên theo mùa vụ. Các nguồn cung cũng luôn có những rủi ro, diễn biến phức tạp trong khi các hoạt động sản xuất cần sự duy trì chất lượng, số lượng trong kho giúp doanh nghiệp có thể thích ứng được với những thay đổi bất thường của điều kiện kinh doanh, ngăn ngừa rủi ro không đáng có.
Thứ hai, kho hàng cũng góp phần giảm chi phí sản xuất, vận chuyển và phân phối. Nhờ có kho mà doanh nghiệp có thể chủ động tận dụng lợi thế quy mô kinh tế, tối ưu hoạt động của kho, phương tiện vận chuyển, gom và tách hàng giúp giảm chi phí bình quân trên đơn vị và tiết kiệm chi phí phân phối thông qua việc quản lý tốt mức hao hụt hàng hóa, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả cơ sở vật chất nhà kho. Thứ ba, kho hàng giúp nâng cao dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Với tính sẵn có của hàng hóa được đảm bảo, doanh nghiệp có thể tối ưu hóa thời gian trung chuyển, thời gian thực hiện đơn hàng và tiến hành logistics ngược thông qua việc thu gom, xử lý, tái sử dụng bao bì, sản phẩm hỏng,… Thứ tư, kho hàng giúp tăng sự hiện diện trên thị trường, tạo lòng tin của khách hàng và rút ngắn khoảng cách tới khách hàng.
Khái niệm quản trị dịch vụ cho thuê kho hàng Quản trị dịch vụ logistics là quá trình quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng, bao gồm việc vận chuyển, lưu trữ, bảo quản và phân phối hàng hóa. Trong khi đó, quản trị kho hàng tập trung vào việc tổ chức và kiểm soát các hoạt động liên quan đến lưu trữ hàng hóa trong kho, tối ưu hóa không gian lưu trữ, quản lý tồn kho và đảm bảo hàng hóa luôn sẵn sàng cho việc phân phối. Từ hai khái niệm này, quản trị dịch vụ cho thuê kho hàng có thể được hiểu là quá trình cung cấp, quản lý và tối ưu hóa dịch vụ cho thuê không gian lưu trữ hàng hóa cho các doanh nghiệp hoặc cá nhân. Mục tiêu của quản trị dịch vụ cho thuê kho hàng là không chỉ cung cấp không gian kho bãi phù hợp với nhu cầu của khách hàng mà còn phải đảm bảo các yếu tố liên quan đến an toàn, bảo mật, chất lượng dịch vụ và tối ưu hóa chi phí vận hành.
Các hoạt động trong quản trị dịch vụ cho thuê kho hàng bao gồm việc duy trì cơ sở hạ tầng kho bãi, quản lý hợp đồng thuê, quản lý kho và tồn kho cho khách hàng, đồng thời cung cấp các dịch vụ gia tăng như phân phối, đóng gói, xử lý hàng hóa. Việc áp dụng công nghệ quản lý kho, như các phần mềm WMS (Warehouse Management System), giúp theo dõi và quản lý tình trạng kho hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng và nâng cao chất lượng dịch vụ cho thuê. Các loại hình kho 2. Theo vị trí trong chuỗi cung ứng: Kho được chia thành hai loại hình kho thành phẩm và kho bán buôn/ bán lẻ.
Đầu tiên là kho thành phẩm, thường sẽ được đặt ở gần nhà máy lắp ráp và đóng vai trò dự trữ hàng hóa trước khi phân phối, đặc biệt trước khi ra mắt sản phẩm thì các kho này hoạt động hết công suất. Thứ hai là kho bán buôn/ bán lẻ với chức năng tích hợp và gom hàng, kho sẽ thường được đặt ở gần vị trí của khách hàng nhằm cung cấp, phản hồi kịp thời với mức chất lượng dịch vụ phù hợp. Kho hàng là một loại hình bất động sản đặc biệt, cần có đầu tư lớn để sở hữu đất đai, đồng thời cần nhiều chi phí để thiết kế và xây dựng, đồng thời cần có năng lực quản lý và vận hành cơ sở logistics này một cách chuyên nghiệp và hiệu quả. Trong đó, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ khả năng bỏ chi phí lớn, chiêu mộ thêm 21 nhân sự như vậy để xây dựng một kho hàng riêng nên việc lựa chọn loại kho phù hợp đóng vai trò quyết định lớn đến hiệu quả của hoạt động quản lý kho.
Theo đặc điểm sở hữu Kho được chia thành ba loại kho là kho riêng, kho công cộng và kho tự quản. Kho riêng thường được sở hữu bởi doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh tự đầu tư và điều hành các hoạt động kho. Với lợi ích của kho riêng là khả năng kiểm soát, tính linh hoạt nghiệp vụ và các lợi ích vô hình khác đem lại thuận tiện cho doanh nghiệp nhưng bù lại, kho riêng thường làm tăng chi phí hệ thống logistics và làm giảm tính linh hoạt về vị trí khi doanh nghiệp mở rộng thị trường mục tiêu. Kho công cộng là kho thuộc sở hữu của các doanh nghiệp logistics, có chức năng kinh doanh các dịch vụ như dự trữ, bảo quản và vận chuyển trên cơ sở tiền thù lao cố định hoặc biến đổi.
Kho công cộng cung cấp tính linh hoạt do dễ thay đổi vị trí, quy mô và số lượng kho, cho phép doanh nghiệp tập trung vào năng lực lõi, đáp ứng nhanh với nguồn hàng, khách hàng và nhu cầu thời vụ. Còn kho tự quản là do doanh nghiệp thuê và tự quản lý, thời gian thuê dài và sẽ ràng buộc bởi hợp đồng thuê. Kho tự quản sẽ phải đáp ứng được tiêu chuẩn của kho hàng. Theo ứng dụng công nghệ kho Kho hàng được chia làm kho thủ công, kho cơ giới hóa và kho tự động hóa.
Loại hình kho đơn giản nhất và phổ biến nhất là kho thủ công. Kho thủ công thì hàng hóa thường được để trong thùng, hộp và trên kệ và việc di chuyển hàng hóa chủ yếu bằng sức người với thiết bị đơn giản như xe đẩy pallet bằng tay, băng tải cơ học. Kho thủ công thường phù hợp với hàng hóa có kích cỡ nhỏ nhẹ, kệ hàng không được quá cao và thường cần có điều hòa với chiếu sang đầy đủ. Kho cơ giới hóa là kho mà một phần sức người được thay thế bằng máy móc như xe nâng, bang chuyền, máy lấy hàng,… và hàng hóa thường được tập hợp theo đơn vị tiêu chuẩn hoặc kích cỡ đồng nhất.
Dù có sự tham gia của máy móc nhưng việc di chuyển hàng hóa vẫn do con người kiểm soát.