Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành mía đường Việt Nam đóng vai trò là một ngành kinh tế - xã hội đặc thù kể từ khi Chính phủ triển khai Chương trình 1 triệu tấn đường vào năm 1995. Hoạt động sản xuất của ngành không thuần túy hướng đến tối đa hóa lợi nhuận mà gắn liền với việc giải quyết việc làm, an sinh xã hội và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại các vùng nông thôn, trung du, miền núi. Tuy nhiên, ngành mía đường Việt Nam thường xuyên đối mặt với sự bất ổn về thị trường tiêu thụ, biến động giá đường thế giới, áp lực cạnh tranh gay gắt từ đường nhập lậu và các cam kết hội nhập khu vực, điển hình là Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA). Trong chuỗi giá trị chế biến mía đường, nguyên liệu mía tươi là đối tượng lao động mang tính thời vụ cao, dễ suy giảm phẩm chất và hao hụt chữ đường (CCS) nếu kéo dài thời gian sau thu hoạch; đồng thời, chi phí nguyên liệu chiếm tỷ trọng chi phối (từ 50% đến 80%) trong cơ cấu giá thành sản phẩm đường. Tình trạng mất cân đối giữa công suất ép của nhà máy và khả năng cung ứng của vùng nguyên liệu (lúc khủng hoảng thừa, lúc thiếu hụt cục bộ) đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản trị chuỗi cung ứng nông sản gắn kết giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân.

Công ty cổ phần Mía đường Sơn La (tiền thân là Nhà máy đường Sơn La trực thuộc Nông trường quốc doanh Tô Hiệu, khởi công xây dựng từ năm 1995) hoạt động trên địa bàn miền núi Tây Bắc, nơi có điều kiện địa hình phức tạp và giao thông vận chuyển khó khăn. Nhằm bảo đảm hoạt động sản xuất liên tục và ổn định công suất ép, doanh nghiệp đã thiết lập mô hình liên kết bao tiêu và đầu tư phát triển vùng nguyên liệu với các hộ nông dân tại địa phương. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn đó, khóa luận tập trung giải quyết bài toán hoàn thiện quản trị cung ứng nguyên vật liệu mía cho nhà máy chế biến.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở phân tích thực trạng về công tác quản trị cung ứng nguyên liệu mía, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị cung ứng nguyên liệu mía tại Công ty cổ phần Mía đường Sơn La.
  2. Mục tiêu cụ thể:
  • Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị cung ứng nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.
  • Thứ hai: Khái quát các đặc điểm cơ bản về tổ chức sản xuất, nguồn lực và kết quả kinh doanh của Công ty cổ phần Mía đường Sơn La.
  • Thứ ba: Phân tích, đánh giá hiện trạng công tác quản trị cung ứng nguyên liệu mía tại công ty trong các khâu từ định mức, lập kế hoạch, liên kết đầu tư vùng nguyên liệu, tổ chức thu mua, vận chuyển đến quản trị kho bãi.
  • Thứ tư: Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản trị cung ứng nguyên liệu mía tại doanh nghiệp trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ công tác quản trị cung ứng nguyên liệu mía tại Công ty cổ phần Mía đường Sơn La.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu hoạt động quản trị cung ứng nguyên liệu mía, bao gồm các mắt xích: xác định định mức, lập kế hoạch nhu cầu, xây dựng vùng nguyên liệu liên kết, thu mua, vận chuyển, tiếp nhận và bảo quản mía tại bãi tập kết của nhà máy.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại văn phòng, nhà máy của Công ty cổ phần Mía đường Sơn La và vùng nguyên liệu trồng mía trên địa bàn hai huyện Mai Sơn và Yên Châu, tỉnh Sơn La (trọng tâm khảo sát thực địa tại xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và sử dụng dữ liệu sản xuất kinh doanh tối thiểu trong 3 năm gần nhất giai đoạn 2018-2020, kết hợp chuỗi số liệu tài chính lịch sử giai đoạn 2007-2020 để phân tích biến động.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên hệ thống lý luận quản trị sản xuất và tác nghiệp, quản trị vật tư trong doanh nghiệp theo giáo trình của Nguyễn Ngọc Huyền và cộng sự (2013). Nguyên vật liệu được định nghĩa là đối tượng lao động được con người tác động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm biến đổi thành sản phẩm hoặc dịch vụ. Trong công nghiệp chế biến, nguyên liệu nông sản là sản phẩm tươi sống, khó bảo quản, nhanh suy giảm phẩm chất cơ lý hóa dưới tác động của môi trường và thời tiết. Quản trị cung ứng nguyên vật liệu được cấu thành từ 7 nội dung tác nghiệp trọng tâm:

  1. Xác định định mức tiêu dùng nguyên vật liệu (bao gồm định mức về lượng kết hợp hao hụt cho phép và tỷ lệ sản phẩm hỏng, nhân với định mức về giá gồm giá mua và chi phí thu mua vận chuyển).
  2. Lập kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu: Áp dụng phương pháp hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (Material Requirement Planning - MRP) để phân chia nhu cầu độc lập (thành phẩm đường theo đơn hàng hoặc dự báo) và nhu cầu phụ thuộc (lượng mía cây cần ép). Công thức xác định tổng nhu cầu nguyên liệu cho kỳ kế hoạch: $$Q_i^D = \sum (Q_{ij}^{ĐM} \times Q_j^{SP})$$ Trong đó: $Q_i^D$ là nhu cầu nguyên liệu thứ $i$; $Q_{ij}^{ĐM}$ là định mức tiêu dùng nguyên liệu $i$ để sản xuất một đơn vị sản phẩm $j$; $Q_j^{SP}$ là sản lượng sản phẩm $j$ dự kiến sản xuất. Đi kèm với hoạch định nhu cầu là xác định lượng dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm và dự trữ thời vụ.
  3. Xác định và lựa chọn nguồn cung ứng: Đánh giá nhà cung ứng thông qua mô hình liên kết phát triển vùng nguyên liệu chuyên môn hóa theo địa bàn địa lý gắn với cự ly vận chuyển và điều kiện tự nhiên.
  4. Tổ chức hoạt động thu mua: Đàm phán hợp đồng, phân bổ lịch thu hoạch, xác định giá thu mua và kiểm soát chất lượng đầu vào.
  5. Tổ chức vận chuyển: Lựa chọn phương thức và điều phối phương tiện vận tải (trong 6 phương thức vận tải lý thuyết, doanh nghiệp mía đường chủ yếu áp dụng vận tải đường bộ bằng xe tải) nhằm rút ngắn thời gian lưu thông từ ruộng mía về bãi ép.
  6. Xây dựng hệ thống kho hàng và bãi tập kết: Thiết kế mặt bằng, quy hoạch bãi chứa nguyên liệu nhập và khu vực nạp mía vào bàn lùa/băng tải cán ép.
  7. Quản trị nguyên vật liệu trong kho bãi: Quy trình kiểm tra, cân đo, lập phiếu nhập kho, bảo quản chống thoái hóa đường và cấp phát nguyên liệu trực tiếp vào dây chuyền sản xuất.

Phương pháp thu thập dữ liệu:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa dữ liệu từ giáo trình quản trị vật tư, quản trị tác nghiệp; các văn bản báo cáo tài chính, báo cáo thường niên giai đoạn 2009-2020 của Công ty cổ phần Mía đường Sơn La; tài liệu lưu trữ từ Phòng Tổ chức - Hành chính, Phòng Tài chính - Kế toán, Xí nghiệp Nguyên liệu; số liệu ngành của Tổng cục Thống kê, Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) và Viện Nghiên cứu Mía đường.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Thực hiện phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, nhân viên Xí nghiệp nguyên liệu và cán bộ kỹ thuật liên quan đến công tác điều hành cung ứng; thực hiện khảo sát hiện trường đối với các hộ nông dân trồng mía theo hợp đồng liên kết tại xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn; quan sát trực tiếp quy trình thu hoạch, kiểm soát phiếu mía, cân tải trọng, cẩu dỡ và nạp nguyên liệu tại bãi ép của nhà máy.

Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu:

  • Phương pháp thống kê mô tả: Hệ thống hóa, phân nhóm và trình bày số liệu sản lượng mía, diện tích, năng suất, cơ cấu lao động, tình hình biến động tài sản và kết quả kinh doanh thông qua các bảng số liệu và biểu đồ.
  • Phương pháp so sánh: Sử dụng so sánh tuyệt đối (mức tăng/giảm về giá trị hoặc sản lượng) và so sánh tương đối (tỷ lệ phần trăm biến động) chuỗi dữ liệu đa năm nhằm đánh giá xu hướng phát triển vùng nguyên liệu, mức độ tự chủ nguồn vốn và hiệu quả hoạt động cung ứng.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các cán bộ quản lý điều hành, kỹ sư nông nghiệp và chuyên viên phụ trách vùng nguyên liệu của doanh nghiệp để làm rõ những bất cập trong tổ chức vận tải, tính toán chữ đường và điều hành thời vụ ép.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị cung ứng nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các khái niệm, đặc điểm lý luận và vai trò của nguyên vật liệu cũng như công tác quản trị cung ứng đối với sự sống còn của doanh nghiệp sản xuất. Tác giả chỉ rõ đặc thù của nguyên vật liệu nông sản là tham gia vào một chu kỳ sản xuất, tiêu hao toàn bộ và chuyển giá trị vào chi phí sản xuất trong kỳ. Quản trị cung ứng không đơn thuần là nghiệp vụ mua sắm tách rời mà là một chuỗi tác nghiệp khép kín bao gồm: xác định định mức kinh tế - kỹ thuật; lập kế hoạch nhu cầu thông qua hệ thống MRP I, MRP II, MRP III; thiết lập mối quan hệ với nhà cung ứng thông qua mô hình vùng nguyên liệu tập trung; tổ chức thu mua theo tiến độ; thiết kế mạng lưới logistics vận chuyển đường bộ; quản trị bãi chứa và cấp phát nguyên liệu nhịp nhàng phục vụ dây chuyền công nghệ. Chương này cũng phân tích 11 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cung ứng, bao gồm công suất máy móc, tính mùa vụ nông nghiệp, chu kỳ giao nhận, biến động giá nhiên liệu, năng lực tài chính và yếu tố thời tiết, khí hậu.

Chương 2: Đặc điểm của Công ty cổ phần Mía đường Sơn La

Chương này phác thảo toàn diện lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, nguồn lực và kết quả kinh doanh của Công ty cổ phần Mía đường Sơn La (mã chứng khoán: SLS; trụ sở tại Km34, Quốc lộ 6 Sơn La – Hà Nội, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 5500155321 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sơn La cấp lần đầu ngày 20/02/2008).

Về quá trình phát triển, doanh nghiệp tiền thân là Nhà máy đường Sơn La trực thuộc Nông trường Tô Hiệu, khởi công ngày 16/09/1995 với tổng vốn đầu tư 127 tỷ đồng. Sau giai đoạn liên tục thua lỗ trước năm 2007 (âm vốn chủ sở hữu 240 tỷ đồng), Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) đã tiến hành tái cơ cấu nợ thành vốn góp cổ phần, có sự tham gia của Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn và Công ty Thực phẩm miền Bắc. Doanh nghiệp thực hiện nâng công suất chế biến từ 1.500 tấn mía/ngày lên 5.000 tấn mía/ngày (từ năm 2017), xây dựng trạm xử lý nước thải công suất 900 m3/ngày đêm (năm 2008), niêm yết cổ phiếu trên HNX năm 2014 và nâng vốn điều lệ lên 97,9 tỷ đồng năm 2018.

Mô hình quản trị của SLS bao gồm Đại hội đồng cổ đông (408 cổ đông tính đến 28/08/2020; bà Trần Thị Thái là cổ đông lớn nhất nắm giữ 27,43%), Hội đồng quản trị gồm 5 thành viên (Chủ tịch là ông Đặng Việt Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc là ông Trần Ngọc Hiếu), Ban Kiểm soát 3 thành viên và Ban Giám đốc điều hành các phòng ban chức năng cùng 4 đơn vị sản xuất trực thuộc: Xí nghiệp nguyên liệu, Nhà máy chế biến đường, Xí nghiệp phân bón, và Xí nghiệp kinh doanh nông sản và thương mại.

Về sản phẩm và thị phần, doanh nghiệp sản xuất đường kính trắng RS (áp dụng ISO 9001:2015 và ISO 14001:2015) và đường tinh luyện cao cấp RE (không sử dụng hóa chất tẩy trắng, phục vụ các ngành thực phẩm, sữa, nước giải khát). Niên vụ 2019-2020, SLS chiếm 7% thị phần đường nội địa cả nước, đứng sau TTC-Biên Hòa (46%) và Đường Quảng Ngãi (13%), xếp trên Lam Sơn (4%). Đáng chú ý, SLS là doanh nghiệp duy nhất sản xuất được đường tinh luyện RE tại khu vực miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Hồng trong tổng số 8 doanh nghiệp có năng lực sản xuất đường RE trên toàn quốc.

Chỉ tiêu Đơn vị Niên vụ 2017-2018 Niên vụ 2018-2019 Niên vụ 2019-2020
Vốn điều lệ Tỷ đồng 97,9 97,9 97,9
Hệ số Nợ phải trả / Tổng nguồn vốn Lần 0,61 0,66 0,49
Hệ số Vốn chủ sở hữu / Tổng nguồn vốn Lần 0,39 0,34 0,51
Giá trị hàng tồn kho cuối kỳ Tỷ đồng 436,06 434,00 198,00
Tổng tài sản Tỷ đồng 1.401,00 1.300,00 1.123,00

Cơ cấu lao động của công ty (thời điểm tháng 2/2021) đạt 377 người (tăng từ 261 người tại ngày 30/06/2020 do tính chất mùa vụ ép), trong đó nam giới chiếm 64,19% (242 người), nữ giới chiếm 35,81% (135 người). Về trình độ: trên đại học có 8 người (2,12%), đại học 78 người (20,69%), cao đẳng 54 người (14,32%), trung cấp 41 người (10,86%), công nhân kỹ thuật 140 người (39,81%) và lao động khác 46 người (12,2%). Thu nhập bình quân của người lao động tăng từ 2,7 triệu đồng/tháng (năm 2007) lên 6,379 triệu đồng/tháng (năm 2016) và đạt 7,5 triệu đồng/tháng (năm 2020). Công ty hỗ trợ trả 70% lương tối thiểu đối với lao động nghỉ chờ việc trong thời gian ngoài vụ ép.

Hạ tầng cơ sở vật chất của SLS trải rộng trên diện tích 20.000 m2 với hệ thống máy móc cơ giới hóa gồm: 21 xe tải vận chuyển, 14 máy cày đất (BELARUS 1221-2, YTO-X1304), 16 máy chăm sóc mía KUBOTA B2420VN, 11 máy xúc (LY-920, LIUGONG ZL30E) và 24 xe nâng hàng.

Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp chuyển biến rõ nét sau quá trình tái cơ cấu và chuyển đổi năm tài chính (từ 01/07 năm trước đến 30/06 năm sau kể từ năm 2016). Tình hình tài chính giai đoạn 2009-2020 được tổng hợp chi tiết qua bảng sau:

Năm / Niên vụ Doanh thu thuần (tỷ đồng) Lợi nhuận sau thuế TNDN (tỷ đồng)
2009 123,99 7,79
2010 192,11 25,39
2011 365,25 34,71
2012 592,96 69,06
2013 575,08 50,88
2014 411,67 17,16
2015 553,14 48,19
2016 425,67 105,49
2016-2017 537,31 163,07
2017-2018 600,73 115,93
2018-2019 877,64 63,24
2019-2020 1.048,34 119,32
Bình quân giai đoạn 525,32 68,35
Tốc độ tăng trưởng bình quân 19,47%/năm 25,53%/năm

Chương 3: Phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị cung ứng nguyên liệu mía tại Công ty cổ phần Mía đường Sơn La

Chương 3 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện thực trạng công tác quản trị cung ứng mía nguyên liệu:

  • Hiện trạng xây dựng và liên kết vùng nguyên liệu: Vùng nguyên liệu của công ty phân bố trên địa bàn hai huyện Mai Sơn và Yên Châu. Doanh nghiệp triển khai ký kết hợp đồng đầu tư - bao tiêu sản phẩm với các hộ nông dân trồng mía (điển hình tại bản Hua Tát, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn). Doanh nghiệp ban hành các chính sách đầu tư vụ thu năm 2020 và niên vụ 2021-2022 thông qua việc ứng trước vốn, cung ứng phân bón hữu cơ vi sinh (sản xuất từ bã bùn và bã mía của nhà máy giúp tăng năng suất mía từ 10% đến 15%), cung cấp giống mía chịu hạn, năng suất cao và hỗ trợ kỹ thuật làm đất, đào hố, đào rãnh.
  • Định mức tiêu hao và lập kế hoạch nhu cầu: Doanh nghiệp xây dựng định mức tiêu hao nguyên liệu dựa trên tỷ lệ thu hồi đường từ mía cây và chữ đường CCS. Kế hoạch nhu cầu mía nguyên liệu được xây dựng căn cứ vào công suất ép thiết kế (5.000 tấn mía/ngày) và thời gian vụ ép kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 4, tháng 5 năm sau.
  • Tổ chức thu mua và kiểm soát chất lượng: Xí nghiệp nguyên liệu trực tiếp điều hành công tác thu mua theo quy trình: khảo sát đồng ruộng, đánh giá độ chín và chữ đường, phát phiếu chặt mía cho các hộ hợp đồng nhằm điều tiết lượng mía đưa về nhà máy tránh ùn tắc; tổ chức thu hoạch, cân kiểm tra tại khu nhà cân, kiểm tra độ tạp chất và thực hiện thanh toán tiền mía minh bạch cho các hộ dân.
  • Tổ chức vận chuyển và quản trị kho bãi: Nguyên liệu mía sau khi thu hoạch được phủ bạt để hạn chế mất nước và suy giảm chữ đường, vận chuyển về nhà máy bằng đội ngũ xe tải chuyên dụng (xe được đánh số kiểm soát). Tại bãi tiếp nhận nguyên liệu của nhà máy, mía được phân luồng cân tải trọng, cẩu trực tiếp vào bàn lùa dẫn động đến băng tải cán ép hoặc đưa vào bãi dự trữ đệm ngoài trời nếu dây chuyền chưa tiếp nhận kịp thời. Phế phẩm bã bùn và tro lò được thu gom chuyển sang Xí nghiệp phân bón để tái chế khép kín.
  • Đánh giá ưu điểm và nhược điểm:
    • Ưu điểm: Doanh nghiệp đã xây dựng được vùng nguyên liệu tập trung gắn kết bền vững với người trồng mía thông qua chính sách đầu tư ứng trước; làm chủ công nghệ sản xuất đường RE; khép kín chuỗi phụ phẩm (sản xuất phân vi sinh từ bã bùn, bán rỉ mật cho sản xuất cồn, mì chính); tỷ lệ tự chủ tài chính tăng lên rõ rệt trong niên vụ 2019-2020.
    • Nhược điểm: Tính mùa vụ gay gắt dẫn đến tình trạng dư thừa lao động ngoài vụ ép; hạ tầng giao thông đường nội đồng vùng nguyên liệu miền núi thường xuyên bị sạt lở hoặc xuống cấp gây kéo dài thời gian vận chuyển; nguy cơ thất thoát chữ đường khi thời gian lưu bãi kéo dài; áp lực cạnh tranh quỹ đất với các loại cây ăn quả khác tại Sơn La.
  • Các giải pháp đề xuất: Khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện công tác quản trị cung ứng nguyên liệu mía:
    • Nhóm giải pháp quản trị cung ứng: Nâng cao độ chính xác trong công tác dự báo và lập kế hoạch thu hoạch theo chữ đường CCS; hoàn thiện quy trình kiểm soát hao hụt và tạp chất tại trạm cân; tiếp tục rà soát, đầu tư cải tạo đường giao thông vùng nguyên liệu phục vụ xe tải cơ giới; hoàn thiện chính sách hỗ trợ giá thu mua và phân bón vi sinh để giữ vững diện tích liên kết với hộ nông dân.
    • Nhóm giải pháp phát triển nhân sự cung ứng: Kiện toàn đội ngũ cán bộ nông vụ tại Xí nghiệp nguyên liệu; tăng cường đào tạo nghiệp vụ khuyến nông cho nhân viên để chuyển giao kỹ thuật trồng mía tiên tiến cho người dân; xây dựng cơ chế sắp xếp, bố trí việc làm và điều chuyển linh hoạt cho lực lượng lao động dôi dư trong thời gian ngừng ép.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa thành công các kết quả thực tiễn tại Công ty cổ phần Mía đường Sơn La:

  • Làm rõ bước chuyển mình ngoạn mục về tình hình tài chính của doanh nghiệp: Từ một đơn vị thua lỗ âm vốn chủ sở hữu 240 tỷ đồng trước năm 2007, sau tái cơ cấu đã nâng vốn điều lệ lên 97,9 tỷ đồng. Đến niên vụ 2019-2020, doanh thu thuần đạt kỷ lục 1.048,34 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 119,32 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân cả giai đoạn 2009-2020 đạt 19,47%/năm và lợi nhuận tăng trưởng bình quân 25,53%/năm.
  • Xác định vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp: Doanh nghiệp chiếm 7% thị phần đường nội địa niên vụ 2019-2020 và là đơn vị duy nhất tại khu vực phía Bắc sản xuất thành công sản phẩm đường tinh luyện cao cấp RE với chất lượng vượt trội.
  • Phân tích cơ chế chuyển đổi nguồn vốn an toàn: Hệ số Nợ phải trả / Tổng nguồn vốn giảm từ 0,66 (niên vụ 2018-2019) xuống 0,49 (niên vụ 2019-2020), trong khi hệ số Vốn chủ sở hữu / Tổng nguồn vốn tăng lên 0,51, giúp công ty giảm áp lực vay nợ và tăng quyền tự chủ tài chính.
  • Về mặt đóng góp ứng dụng: Khóa luận cung cấp góc nhìn thực chứng về mô hình liên kết "Doanh nghiệp chế biến - Hộ nông dân trồng mía" tại địa bàn miền núi. Tác giả đã cụ thể hóa quy trình quản trị cung ứng nguyên liệu từ khâu đầu tư phân bón, giống cây đến thu hoạch, vận chuyển và bảo quản bãi ép, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp gắn kết trách nhiệm và lợi ích hài hòa giữa nhà máy với bà con nông dân địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu thực tế được tác giả chỉ rõ:

  • Thời gian thực tập và khảo sát thực tế tại doanh nghiệp tương đối ngắn do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19 trong niên vụ 2020-2021, làm giới hạn khả năng tiếp cận sâu hơn vào một số dữ liệu nội bộ chi tiết của quy trình kiểm định chất lượng nước mía.
  • Phạm vi khảo sát thực địa hộ nông dân còn giới hạn tập trung chủ yếu tại xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn; chưa bao quát toàn diện các tiểu vùng nguyên liệu xa hơn tại huyện Yên Châu.
  • Chuỗi số liệu phân tích chuyên sâu về quản trị cung ứng tập trung chính trong giai đoạn 3 niên vụ 2017-2020. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng đánh giá tác động dài hạn của chính sách phòng vệ thương mại đường mía của Việt Nam sau khi áp thuế chống bán phá giá đối với đường Thái Lan, đồng thời đi sâu nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin và bản đồ số GIS trong việc quản lý chi tiết từng thửa đất vùng nguyên liệu mía.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp, Kinh tế nông nghiệp và Quản trị chuỗi cung ứng: Khóa luận là tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp phân tích thực trạng cung ứng vật tư nông sản thực phẩm tại một doanh nghiệp công nghiệp chế biến đặc thù.
  • Nhà quản trị và cán bộ phụ trách vật tư/nông vụ tại các doanh nghiệp mía đường: Cung cấp bài học kinh nghiệm thực tiễn về công tác tái cấu trúc doanh nghiệp nợ đọng (DATC), tổ chức chuỗi phụ phẩm tuần hoàn (sản xuất phân vi sinh từ bã mía, bã bùn để bón ngược lại cho đồng ruộng) và chính sách quản lý vận tải, bãi ép để kiểm soát chữ đường.
  • Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm: Chương 2 về bức tranh chuyển đổi tài chính và tổ chức máy móc thiết bị; Chương 3 về quy trình tổ chức thu mua, chính sách đầu tư ứng trước cho vùng nguyên liệu và các bảng biểu hạch toán tài chính - kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

1. Công ty cổ phần Mía đường Sơn La có lịch sử hình thành như thế nào và sự can thiệp của DATC có ý nghĩa gì đối với công ty? Công ty tiền thân là Nhà máy đường Sơn La trực thuộc Nông trường quốc doanh Tô Hiệu, được khởi công xây dựng vào ngày 16/09/1995 với mức đầu tư 127 tỷ đồng. Trước năm 2007, công ty rơi vào khủng hoảng thua lỗ triền miên và bị âm vốn chủ sở hữu 240 tỷ đồng. Bộ Tài chính đã giao Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) tham gia tái cơ cấu bằng giải pháp chuyển nợ thành vốn góp, đồng thời mời Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn và Công ty Thực phẩm miền Bắc tham gia góp vốn, giúp doanh nghiệp hồi phục và sau đó niêm yết trên sàn HNX.

2. Điểm khác biệt cơ bản giữa đường kính trắng RS và đường tinh luyện RE của công ty là gì? Đường RS (Refined Standard) là đường kính trắng cao cấp làm từ mía tươi và phụ gia cho phép, đóng túi 0,5 kg, 1 kg và bao 50 kg theo chuẩn ISO 9001 và ISO 14001. Trong khi đó, đường RE (Refined Extra) là sản phẩm cao cấp mới được sản xuất với dây chuyền công nghệ cao, đạt độ tinh khiết tối đa, loại bỏ tạp chất mà hoàn toàn không dùng hóa chất tẩy trắng, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm khắt khe phục vụ làm nguyên liệu cho các ngành chế biến cao cấp như sữa, sữa trẻ em và nước giải khát.

3. Cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần Mía đường Sơn La thay đổi như thế nào trong niên vụ 2019-2020? Trong hai niên vụ 2017-2018 và 2018-2019, công ty phụ thuộc nhiều vào nợ phải trả với hệ số Nợ/Tổng nguồn vốn lần lượt là 0,61 và 0,66 (lớn hơn 0,5). Đến niên vụ 2019-2020, cơ cấu nguồn vốn đã đổi chiều tích cực khi doanh nghiệp thanh toán được đáng kể nợ ngắn hạn, đưa hệ số Nợ phải trả/Tổng nguồn vốn xuống 0,49 và nâng hệ số Vốn chủ sở hữu/Tổng nguồn vốn lên 0,51, giúp SLS tăng tính độc lập, tự chủ tài chính và giảm rủi ro chi phí lãi vay.

4. Doanh nghiệp đã tận dụng các phế phẩm sau quá trình chế biến đường để làm gì trong công tác quản trị cung ứng? SLS đã triển khai mô hình kinh tế tuần hoàn bằng cách thành lập Xí nghiệp phân bón. Đơn vị này tận dụng bã mía, bã bùn lên men và tro lò đốt sau quá trình chế biến đường, phối trộn với đạm, lân, kali, vi sinh vật hữu ích để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh. Loại phân bón này được cung ứng bón lót và bón thúc cho chính vùng nguyên liệu mía của công ty, giúp cải tạo đất thoái hóa, tăng khả năng chịu hạn, kháng sâu bệnh và gia tăng năng suất mía từ 10% đến 15%.

5. Vùng nguyên liệu chính của nhà máy được đặt ở đâu và các phương thức vận chuyển được tổ chức ra sao? Vùng nguyên liệu của công ty được quy hoạch tại hai huyện Mai Sơn và Yên Châu thuộc tỉnh Sơn La (trọng điểm thu mua lớn tại xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn). Do điều kiện miền núi, toàn bộ nguyên liệu mía được vận chuyển bằng đường bộ thông qua đội ngũ 21 xe tải của công ty cùng các xe hợp đồng được đánh số quản lý; mía sau khi chặt được bó gọn, phủ bạt kín để giảm mất nước rồi vận chuyển khẩn trương về khu nhà cân của nhà máy.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thảo đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu nghiên cứu thông qua việc hệ thống hóa chặt chẽ lý luận quản trị vật tư và làm sáng tỏ bức tranh cung ứng nguyên liệu mía tại Công ty cổ phần Mía đường Sơn La. Nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm phong phú, phản ánh chân thực nỗ lực vượt khó của doanh nghiệp trong việc tái cơ cấu nguồn vốn, xây dựng liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững với người nông dân trồng mía vùng Tây Bắc và làm chủ công nghệ sản xuất đường RE. Các giải pháp đề xuất trong khóa luận bám sát điều kiện hạ tầng và đặc thù mùa vụ của địa phương, mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác hoàn thiện quản trị cung ứng nguyên liệu tại doanh nghiệp trong giai đoạn phát triển mới.