chương 1) Sản xuất: Hoạt động sản xuất phụ thuộc rất lớn và năng lực của chuỗi cung ứng. Để chuỗi cung ứng có thể cung ứng tốt cho quá trình sản xuất thì cần phải chú ý đến các hoạt động như việc: xây dựng kế hoạch sản xuất cho từng thời điểm cụ thể và cho mục tiêu của từng năm để từ đó có kế hoạch cho hoạt động cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, kiểm định chất lượng nguyên vật liệu đầu vào,… Tồn kho: Hoạt động tồn kho bao gồm 2 thành phần là tồn kho nguyên vật liệu và tồn kho thành phẩm. Để quá trình lưu kho đem lại hiệu quả, doanh 10 z nghiệp cần xây dựng quy trình hoạt động lưu trữ một cách bài bản. Trong hoạt động tồn kho, doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng kho bãi, tính toán nguyên vật liệu hoặc thành phẩm tồn trữ tối ưu, có kế hoạch bảo quản phù hợp để giảm thiểu hư hỏng mất mát theo thời gian.
Địa điểm: liên quan đến vị trí, hoạt động được thực hiện ở các bộ phận của chuỗi cung ứng. Sự lựa chọn ở đây chính là tính đáp ứng nhanh hiệu quả. Quyết định về địa điểm được xem như là một quyết định chiến lược vì ảnh hưởng lớn đến tài chính trong kế hoạch dài hạn. Khi quyết định về địa điểm, nhà quản lý cần xem xét hàng loạt các yếu tố liên quan đến chi phí như phòng ban, lao động, kỹ năng cần có trong sản xuất, điều kiện cơ sở hạ tầng, thuế… và khoảng cách gần với nhà cung cấp hay người tiêu dùng… Vận tải: liên quan đến việc vận chuyển dòng vật chất từ nguyên vật liệu, bán thành phẩm đến thành phần xuyên suốt trong chuỗi cung ứng.
Việc cân đối giữa tính đáp ứng nhanh và hiệu quả thể hiện qua việc lựa chọn phương thức vận tải. Hoạt động thông tin: Thông tin và một vấn đề quan trọng để ra quyết định đối với 4 tác nhân thúc đẩy của chuỗi cung ứng đã nêu ở trên. Đó là sự kết nối giữa tất cả các hoạt động trong một chuỗi cung ứng. Trong phạm vi này, sự kết nối là mạnh (ví dụ như dữ liệu chính xác, kịp thời và đầy đủ) thì các công ty trong chuỗi cung ứng sẽ có thể đưa ra các quyết định mang tính chính xác cao đối với các doanh nghiệp hoạt động của riêng họ.
Điều này giúp cho việc tối đa hóa lợi nhuận của toàn bộ chuỗi cung ứng. Hoạt động thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc: Phối hợp các hoạt động hàng ngày: liên quan đến chức năng của 4 tác nhân thúc đẩy khác của chuỗi cung ứng: sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận tải. Các công ty trong chuỗi cung ứng sử dụng các dữ liệu sẵn có về cung – cầu sản phẩm để quyết định lịch trình sản xuất hàng tuần, mức độ tồn kho, lộ trình vận chuyển và địa điểm tồn trữ. 11 z Dự báo và lập kế hoạch: để dự báo và đáp ứng nhu cầu trong tương lai.
Thông tin dự báo được sử dụng để bố trí lịch trình sản xuất hàng ngày, hàng tháng, hàng quý, hàng năm… Trong phạm vi tổng thể chuỗi cung ứng, các công ty quyết định tính kịp thời và tính hiệu quả chính là quyết định bao nhiêu thông tin để chia sẻ cho các công ty khác và bao nhiêu thông tin giữ lại cho công ty mình. Các công ty chia sẻ càng nhiều thông tin về sản phẩm, nhu cầu khách hàng, dự báo thị trường, lịch trình sản xuất,. thì mỗi công ty càng đáp ứng kịp thời hơn. Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng đối với doanh nghiệp Đối với các công ty, SCM có vai trò rất lớn, bởi SCM giải quyết cả đầu ra lần đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả.
Nhờ có thể thay đổi các nguồn nguyên liệu đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình luân chuyển vật liệu, hàng hóa, dịch vụ mà SCM có thể giúp tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Có không ít công ty đã gặt hái thành công lớn nhờ biết soạn thảo chiến lược và giải pháp SCM thích hợp. Ngược lại, có nhiều công ty gặp khó khăn thất bại do đưa ra các quyết định sai lầm như chọn sai nguồn cung cấp nguyên liệu, chọn sai vị trí kho bãi, tính toán lượng tồn kho không phù hợp, tổ chức vận chuyển và phân phối phức tạp và chồng chéo. Ngoài ra, SCM còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị, đặc biệt là tiếp thị hỗn hợp (4P: Product, Price, Promotion, Place).
Chính SCM đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp. Mục tiêu lớn nhất của SCM là cung cấp sản phẩm/dịch vụ đến cho khách hàng với tổng chi phí thấp nhất. Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng SCM hứa hẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty và tạo điều kiện cho chiến lược thương mại điện tử phát triển. Đây chính là chìa khóa thành công cho B2B.
Tuy nhiên, như không ít các nhà phân tích kinh doanh 12 z đã cảnh báo, chiếc chìa khóa này chỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các chiến lược dựa trên hệ thống sản xuất, khi chúng tạo ra một trong những mối liên kết trọng yếu nhất trong dây chuyền cung ứng. Theo Michael Hugos, tác giả của cuốn sách “Essentials of supply chain management” thì có một mô hình cơ bản cho việc ứng dụng quản lý chuỗi cung ứng vào thực tế. Mỗi chuỗi cung ứng gồm một tập hợp đơn nhất các yêu cầu của thị trường cũng như những thách thức gặp phải trong công tác điều hành. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, vấn đề phát sinh lại hoàn toàn giống nhau.
Mặt khác, chất lượng đầu ra của doanh nghiệp sẽ tốt hơn nếu được các nhà cung cấp, cung cấp các sản phẩm được quản lý chất lượng đầu vào theo quy trình quản lý của chuỗi cung ứng; hệ thống thông tin giúp doanh nghiệp thuận tiện hơn trong quản lý sản phẩm theo từng lô hàng, cho phép doanh nghiệp có khả năng xử lý kịp thời trong việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm khi phát sinh về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao bì … để có thể đề ra những phương án khắc phục, điều chỉnh kịp thời. Một chuỗi cung ứng là năng động và liên quan tới những dòng thông tin, sản phẩm và vốn liên tục từ giai đoạn này tới giai đoạn khác. Mục đích chính của chuỗi cung ứng là làm hài lòng khách hàng, và điều đó sẽ đem lại lợi nhuận cho chính chuỗi cung ứng. Phạm trù chuỗi cung ứng gợi lên hình ảnh về sản phẩm hay nguồn cung ứng di chuyển từ nhà cung cấp tới nhà sản xuất, tới nhà phân phối, người bán lẻ và tới khách hàng.
Dĩ nhiên, sản phẩm hay nguồn cung ứng là một phần của chuỗi, nhưng dòng thông tin và dòng vốn cũng là một phần quan trọng. Phạm trù chuỗi cung ứng cũng có thể hàm ý rằng mỗi người liên quan tới một giai đoạn của chuỗi. Thực ra, một nhà sản xuất có thể nhận nguyên vật liệu từ nhiều nhà cung cấp và sau đó phân phối cho nhiều nhà phân phối. Do đó, thực sự hầu hết chuỗi cung ứng là một mạng lưới.
13 z Theo đó, trong sản xuất, kinh doanh cũng như vận hành một doanh nghiệp, nhà quản lý cần nắm được rằng chuỗi cung ứng có vai trò cực kỳ quan trọng, nó sẽ giúp họ: Vận hành được bộ máy sản xuất, kinh doanh chung của doanh nghiệp theo một lề lối, một trật tự thống nhất. Tránh được những rủi ro trong quản lý cũng như sản xuất sản phẩm, dịch vụ. Sản phẩm, dịch vụ đến tay người tiêu dùng được người dùng đón nhận, hưởng ứng. Hiểu được về chuỗi cung ứng cũng như vai trò của chuỗi cung ứng còn là cơ sở để nhà quản lý đưa ra những chiến lược đúng đắn; sử dụng nhân lực, vật tư đúng nơi, đúng chỗ;… đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp vươn lên một tầm cao mới, hội nhập và phát triển.
Doanh nghiệp không có chuỗi cung ứng cụ thể thì mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy hưởng, không theo lề lối và dễ đi đến đà phá sản. Nội dung quản trị chuỗi cung ứng Theo mô hình tiến sĩ Nguyễn Kim Anh đưa ra trong cuốn sách “Quản trị chuỗi cung ứng” (NXB đại học mở TP Hồ Chí Mính, 2006), có 5 tác nhân thúc đẩy chính tới hoạt động quản trị chuỗi cung ứng là do sản xuất, tồn kho, địa điểm và thông tin. Dựa trên 5 tác nhân này, tác giả đưa ra 6 nội dung của công tác quản trị chuỗi cung ứng như sau: Một là, công tác lập kế hoạch: Kế hoạch là một phần quan trọng và là phần khởi đầu của một chuỗi cung ứng bất kỳ trong doanh nghiệp. Để các hoạt động tiếp theo trong chuỗi cung ứng có thể hoạt động trôi chảy và xuyên suốt, yêu cầu ngay từ khâu lập kế hoạt phải đảm bảo tính chính xác và khoa học.
Kế hoạch chính là cơ sở để các nhà quản trị chuỗi cung ứng cân đối nhu cầu nguyên vật liệu, lập kế hoạch sản xuất tối ưu hóa giá trị cho toàn 14 z chuỗi chi phí thấp nhất, chất lượng sản phẩm cao nhất và thời gian giao hàng nhanh nhất. Công tác lập kế hoạch trong một doanh nghiệp sản xuất bất kỳ bao gồm 2 phần là lập kế hoạch nhu cầu và lập kế hoạch sản xuất. Lập kế hoạch nhu cầu: cho phép doanh nghiệp biết được nhu cầu của thị trường (khách hàng) trong một giai đoạn nhất định, thông thường từ 6 tháng đến 1 năm. Việc lập kế hoạch nhu cầu sẽ giúp doanh nghiệp dự báo trước được số lượng sản phẩm sẽ được sản xuất và tiêu thụ trong tương lai, đây là cơ sở quan trọng để lập kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu trong tương lai.
Kế hoạch về nhu cầu được xác định dựa trên các thông tin thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau như bộ phận khách hàng, bộ phận nghiên cứu thị trường. Các bộ phận này sẽ cung cấp cho các nhà quản trị các thông tin về nhu cầu thị trường, về thị hiếu khách hàng, về các xu hướng tiêu dùng trong tương lai. Lập kế hoạch sản xuất: Sau khi dự báo được nhu cầu sản phẩm tiêu thụ trong tương lai, công tác lập kế hoạch sản xuất sẽ được thực hiện để đảm bảo sản xuất đủ số lượng và chất lượng hàng hóa theo yêu cầu với giá thành thấp nhất và thời gian thực hiện ngắn nhất.