Chương 1: Cơ sở lý thuyết về kế toán quản tri chi phi môi trường trong. doanh nghiệp sản x Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chỉ phí môi trường tại Nhà máy nhiệt điện Nông Sơn. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chỉ phí mí trường tại nhà máy nhiệt điện Nông Sơn. Tổng quant lệu nghĩ cứu.
Tại các Q gia phát trị „ kế toán quản trị chỉ phí môi trường trong doanh nghiệp nhận được sự quan tâm. Mặc dù mới được đề cập một cách chính thức trong các chỉ dẫn về kế toán quản trị môi trường của Ủy ban về phát triển bền vững của Liên hợp quốc (UNDSD) năm 2001 và của Liên đoàn. kế toán quốc tế (IFAC) năm 2005, thực tế kế toán quản trị chỉ phí môi trường. đã được nghiên cứu từ những năm 70 và được triển khai áp dụng tại nhiều nước trên thế giới từ thập niên 90 của thế kỷ XX.
Điển hình như nghiên cứu về cách thức ứng dụng kế toán chỉ phí môi trường tại các doanh nghiệp trong các ngành nghề ở các khu vực và quốc gia khác nhau của Viện kế toán công Australia (2002). Năm 2002, Viện kế toán công Australia đã tiến hành nghiên cứu về chỉ phí môi trường trong 4 loại hình tổ chức là giáo dục, sản xuất nhựa, cung cấp dịch vụ và sản xuất len lông. cửu tại Australia, các chỉ phí môi trường liên quan đến việc sử dụng nước và năng lượng thường được ghi nhận là chỉ phí sản xuất chung trong hệ thống kế toán hiện hành. Các chi pl thất thải thường không được bảo cáo hoặc báo cáo thiếu vì họ không xem xét các chỉ phí của việc mua các nguồn lực mà chúng bao gồm trong chất thải.
Vì vậy, các đơn vị không thành công trong phân bổ chỉ phí môi trường vì các chỉ phí được phân bổ như nhau cho các sản phẩm và vô hình chung các sản phẩm sạch đã “trợ cấp” chỉ phí cho các sản phẩm ban, Nghiên cứu ở Việt Nam phải kể đến “Aghiển cứu mổ hình quản lý và hạch toán chỉ phí môi trường trong các doanh nghiệp khai thác than Việt Nam” (Bùi Thị Thu Thủy, 2010) đã nghiên cứu lý luận về hạch toán chỉ phí môi trường trong doanh nghiệp và thực trạng kế toán quản trị môi trường. trong các doanh nghiệp khai thác than Việt Nam từ đó đề xuất mô hình quản lý và hạch toán chỉ phí môi trường áp dụng cho xí nghiệp xây dựng và khai 'thác khoáng sản-Công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc (TKV). Đề tài cấp Bộ của tác giả Phạm Đức Hiếu (2010) và các thành viên “Nghiên cứu giải pháp áp dụng kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam”. Đề tài đã hệ thống hóa và làm rõ hơn các lý luận cơ bản vẻ kế toán môi trường.
trong doanh nghiệp nói chung, các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng áp dụng. kế toán môi trường trong doanh nghiệp nói riêng. Đồng thời cũng nghiên cứu. và phân tích thực trạng kế toán cho mục tiêu môi trường trong các doanh.
nghiệp sản xuất của Việt Nam. Thông qua 7 mệnh đề nghiên cứu, tác giả đã thực hiện các nghiên cứu định tính và định lượng để xem xét các nhân tổ ảnh hướng tới quá trình thực hiện kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất có qui mô tương đối lớn ở hai miền Nam, Bắc của Việt Nam hoạt động. trong các lĩnh vực có liên quan nhiễu đến môi trường như ngành sản xuất thức tống, công nghiệp hóa chất và công nghiệp da giày từ đó đưa ra các giải phép và khuyến nghị để áp dụng hiệu quả kế toán môi trường trong các doanh. nghiệp sản xuất của Việt Nam.
Bài viết trong hội thảo quốc tế “Kính dể Việt Nam trong thời kỳ hội nhập: Cơ hội và thách thức ” của ác giả Lê Thị Tâm và Phạm Thị Bích Chỉ (2016) “Kế toán quản trị chỉ phí môi trường trong doanh nghiệp sản xuất gạch Việt Nam”. Các tác giả sử dụng phương pháp định lượng để thu thập, xử lý thông tin về mức độ ứng dụng kế toán quản trị chỉ phí môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất gạch của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Mức độ áp dụng là tương đối thấp và có mối quan hệ mật thiết giữa mức độ thực hiện kế toán quản trị chỉ phí môi trường với hiệu cquả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, các tác giả đã đưa ra một số đề xuất để thúc đẩy việc thực hiện kế toán quản trị chỉ phí môi trường tại các doanh nghiệp này.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tiền (2014) “Kế toán quản trị môi trường tại công ty cổ phần Vicem Hải Vân”, tác giả đã nghiên cứu lý luận, nhận đạng chỉ phí môi trường, doanh thu môi trường tại công công ty cổ. Vicem Hai Van, từ đó phân tích, ra cho nhà quản lý thấy được tầm quan trọng của quản trị chỉ phí môi trường liên quan trực tiếp đến. hiệu quả kinh doanh tại đơn vị Các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị môi trường nói trên đã đóng góp vào quá trình tìm hiểu sự phát triển và thực hành kế toán quản trị môi trường trong các doanh nghiệp tại Việt Nam và các quốc gia trên thế giới. Tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy còn một số “khoảng trống” trong các nghiên cứu về kế toán quản trị môi trường cần tiếp tục được bổ sung.
trong thời gian tới là: Các nghiên cứu về kế toán quản trị môi trường chủ yếu. được thực hiện trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhạy cảm với môi trường như xi măng, dầu khí. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu về kế toán quản trị chỉ phí môi trường trong các nhà máy sản xuất điện, đặc biệt tại các nhả máy nhiệt điện. Kế thừa nghiên cứu của các tác giả, đề tài tập trung nghiên cứu về kế toán quản trị chỉ phí môi trường áp dụng cho doanh nghiệp sản xuất, cụ thể tại Nhà máy nhiệt điện Nông Son.
CHUONGI CO SG LY LUAN VE KE TOAN QUAN TRI CHI PHi MOL TRUONG TRONG DOANH NGHIEP SAN XUAT 1.1 BAN CHAT VA VAI TRO CUA KE TOAN QUAN TRI CHI PHi MOI TRUONG TRONG DOANH NGHIEP SAN XUAT 1.1 Một số khái niệm cơ ban 4. Khéi niệm chỉ phí môi trường Chỉ phí được định nghĩ một cách chung nhất là “nguồn lực bị hy sinh hoặc mắt đi để đạt được một mục tiêu nhất định. Chỉ phí thường được đo lường dưới dạng khoản tiền phải trả cho hàng hoá và dịch vụ đã sử dụng” (Homgren, Datar & Foster, 2003). Theo đó, chỉ phí môi trường là một trong, nhiều loại chỉ phí phát sinh tại doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải chấp nhận và chỉ trả khi thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng.
Theo Ủy ban phát triển bền vũng của Liên hợp quốc (UNDSD, 2001) “Chi phí môi trường có thể hiểu là các chỉ phí gắn với thiệt hại môi trường và bảo vệ môi trường của doanh nghiệp. Chỉ phí này bao gồm các chỉ phí để ngăn ngừa, tiêu hủy, lập kế hoạch, kiểm soát, thay đổi hành động và khắc phục những thiệt hại có thể xảy ra ở công ty và ảnh hưởng. tới chính phủ và moi người Mặc dù được định nghĩa nhiều cách khác nhau nhưng các khái niệm đều. thừa nhận chỉ phí môi trường là chỉ phí phát sinh từ hoạt đông bảo vệ môi trường do các tác động tới môi trường từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chỉ phí môi trường có một số đặc điểm dáng chúý sau: ~ Chỉ phí môi trường có nguồn gốc từ quá trình tương tác giữa doanh. nghiệp với môi trường trong quá trình sản xuất kinh doanh vì thế nó tồn tại ở' mọi khâu trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp ~ Chỉ phí môi trường gắn với việc khắc phục và phòng ngừa các thiệt hại môi trường hiện tại và tương lai có thể xảy ra do tác động của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. ~ Chỉ phí môi trường bao gồm cả chỉ phí bắt buộc và tự nguyện. Ñế toán môi trường và kế toán quản trị môi trường.
Theo Gauthier et al (1997), kế toán môi trường trong doanh nghiệp làm một bộ phận của toán liên quan đến các vấn đề môi trường và không thể tách rời khỏi hệ toán tài chính và kế toán quản trị. Đó là hệ thống thông tin cho phép thu thập và phân tích dữ liệu, kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động, ra quyết định và quy trách nhiệm cho các nhà quản lý Ì với các chỉ phí và rủi ro môi trường. Theo Schaltergger et al (2000), kế toán môi trường là một bộ phận kinh doanh, ghỉ chép, phân tích và báo cáo thông tin về tác động của doanh nghiệp tới môi trường và tới hiệu quả kinh tế của đơn vị kế toán Như vậy, trong mối quan hệ với hệ thống kế toán truyền thống tại các doanh nghiệp, theo tác giả, kế toán môi trường không chỉ bao gồm kế toán truyền thống để giải quyết các vẫn đề liên quan đến môi trường mà còn mở rộng phạm vi của kế toán truyền thống bằng việc phát triển hệ thống thông tin mới để thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin môi trường. một cách hữu ích cho các đối tượng sử dụng.
“Trong những năm gần đây, môi trường trở thành vấn đẻ thời sự có tính. toàn cầu, thu hút được sự quan tâm của nhiều quốc gia. Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường là mục tiêu của phát triển bền vững đang đặt ra cho. các chủ thể trong nên kinh tế đặc biệt là các doanh nghiệp phải hoạch toán được các yếu tố môi trường và đưa ra các quyết định kinh doanh.
Do đó kế toán môi trường được sử dụng như một công cụ quản lý giúp các doanh nghiệp đạt tới sự phát triển bền vững, duy trì quan hệ với cộng đồng, nâng cao hiệu quả của các hoạt động môi trường. Các phương pháp của kế toán môi trường cho phép doanh nghiệp nhận dang chi phí môi trường, nhận diện các khoản thu nhập, cung cắp cách thức hợp lý nhất cho đo lường các chỉ tiêu tai chính và hiện vật, hỗ trợ cho các báo cáo về kết quả môi trường, ‘Theo USEPA (1995) thành phần của kế toán môi trường gồm có kế toán tải chính môi trường và kế toán quản trị môi trường.