Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị chi phí hoạt động kinh doanh tại ngân hàng thƣơng mại. Đây là cơ sở lý luận cho toàn bộ nội dung của đề tài nghiên cứu và những vấn đề đƣợc đặt ra trong chƣơng 1 bao gồm: tổng quan về các nội dung chi phí hoạt động kinh doanh và quản trị chi phí hoạt động kinh doanh tại ngân hàng thƣơng mại, sự cần thiết của quản trị chi phí hoạt động kinh doanh đối với các ngân hàng thƣơng mại, các phƣơng pháp và nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản trị chi phí hoạt động kinh doanh. Chương 2: Thực trạng công tác quản trị chi phí hoạt động kinh doanh tại Vietinbank. Dựa trên những số liệu, thông tin thu thập đƣợc từ các nguồn dữ liệu tin cậy, đề tài tập trung nghiên cứu và phân tích về thực trạng của quản trị chi phí hoạt động kinh doanh tại Vietinbank trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014.
Qua đó, tác giả đƣa ra các đánh giá và nhận định về thành tựu đạt đƣợc, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của các hạn chế này trong việc thiết lập, thực hiện và giám sát công tác quản trị chi phí hoạt động làm nền tảng cho việc đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này tại Vietinbank. Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị chi phí hoạt động kinh doanh tại Vietinbank. Thực tiễn cho thấy vai trò của quản trị chi phí hoạt động kinh doanh trong ngành ngân hàng ngày càng mang tính cấp thiết. Vì vậy, chƣơng 3 của luận văn tập trung vào việc đề ra các kiến nghị nhằm khắc phục download by : skknchat@gmail.com xvii những hạn chế còn tồn tại và phát huy hơn nữa hiệu quả của công tác quản trị chi phí hoạt động kinh doanh tại Vietinbank và ngành ngân hàng trong tƣơng lai.
download by : skknchat@gmail.com I CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm chi phí hoạt động kinh doanh Các khái niệm và quan điểm về chi phí hoạt động kinh doanh đƣợc hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, chẳng hạn nhƣ: Dƣới góc độ doanh nghiệp nói chung, Vũ Quang Kết (2007, trang 125) định nghĩa “Chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là các khoản chi phí phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm tài chính, bao gồm chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí khác”.[20] Dƣới góc độ kế toán ngân hàng, Nguyễn Thị Loan (2009, trang 318) cho rằng “Chi phí hoạt động kinh doanh: bao gồm chi trả lãi tiền gửi, tiền vay, chi về kinh doanh ngoại tệ, vàng, chi cho hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng, chi cho việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, chi cho hoạt động mua bán nợ, chi cho hoạt động góp vốn, mua cổ phần, chi về chênh lệch tỷ giá, chi cho thuê tài sản, chi khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương, chi dịch vụ thuê ngoài, chi phí nộp thuế, phí, chi các khoản đã hạch toán doanh thu nhưng thực tế không thu được, chi phí khác”.[11] Dƣới góc độ quản trị, chi phí hoạt động kinh doanh là đối tƣợng mà các nhà quản trị hƣớng đến để phân tích, kiểm soát và đƣa ra các quyết định nhằm điều hành hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.2 Phân loại chi phí hoạt động kinh doanh [11] Trên quan điểm của nhà quản trị, chi phí hoạt động kinh doanh tại NHTM đƣợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy theo từng mục đích sử dụng, đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin để nhà quản trị ra quyết định. download by : skknchat@gmail.1 Phân loại theo chức năng quản trị - Chi phí lãi: là những chi phí liên quan đến lãi suất; là khoản chi phí phụ thuộc vào ý chí chủ quan của nhà quản trị ngân hàng khi quyết định mức lãi suất huy động vốn. Ví dụ: chi phí trả lãi tiền gửi,chi phí trả lãi tiền vay,… - Chi phí phi lãi: là những khoản chi phí không liên quan đến lãi suất. Ví dụ: chi phí tiền lƣơng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu giấy tờ in,… Dƣới góc độ quản trị, nhà quản trị ngân hàng rất quan tâm đến việc phân loại chi phí lãi và chi phí phi lãi.
Đối với chi phí phi lãi, nhà quản trị có thể ra ngay quyết định tăng hoặc giảm chi phí để đạt đƣợc mục tiêu đề ra, đối với chi phí lãi thì nhà quản trị phải xem xét trên khía cạnh kinh doanh hiện tại của ngân hàng nhƣ khả năng sinh lời, an toàn hay tăng trƣởng kinh doanh để định ra mức lãi suất huy động vốn nhằm thu hút đƣợc nguồn huy động vốn nhƣng vẫn đảm bảo mục tiêu lợi nhuận, đảm bảo tính cạnh tranh và hạn chế rủi ro cho ngân hàng.2 Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định - Chi phí kiểm soát đƣợc: là những chi phí mà một cấp quản trị cụ thể có thẩm quyền quyết định việc phát sinh và chịu trách nhiệm về chúng. Ví dụ: giám đốc chi nhánh có thể quyết định và chịu trách nhiệm về việc xếp loại bậc, mức lƣơng cho nhân viên của chi nhánh mình trên cơ sở thang bậc lƣơng của toàn hệ thống. - Chi phí không kiểm soát đƣợc: là những chi phí nằm ngoài phạm vi quyết định của một số cấp quản trị cụ thể. Ví dụ: các khoản chi phí liên quan đến các thiết bị đƣờng truyền mạng máy chủ trong toàn hệ thống sẽ do hội sở phân bổ về chi nhánh, giám đốc chi nhánh không có quyền quyết định.
Việc xem xét chi phí kiểm soát đƣợc và chi phí không kiểm soát đƣợc chỉ có ý nghĩa thực tế khi đặt nó ở phạm vi một cấp quản lý cụ thể và thƣờng đƣợc các nhà quản trị ứng dụng để lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của từng đơn vị cụ thể trong toàn hệ thống. download by : skknchat@gmail.3 Phân loại theo mối quan hệ với mức độ hoạt động Xét trong mối quan hệ giữa chi phí và quy mô hoạt động của NHTM, chi phí hoạt động kinh doanh đƣợc phân loại nhƣ sau: - Chi phí khả biến (biến phí) Chi phí khả biến là loại chi phí thay đổi (tăng, giảm) theo sự tăng, giảm của mức độ hoạt động; tổng chi phí khả biến tăng khi mức độ hoạt động tăng và ngƣợc lại tổng chi phí khả biến giảm khi mức độ hoạt động giảm. Ví dụ: chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí phát hành thẻ,… Xét trên mối quan hệ giữa biến phí và mức độ hoạt động, ngƣời ta lại chia biến phí thành các loại: Chi phí khả biến tuyến tính (biến phí tỷ lệ): là loại chi phí có sự biến động cùng tỷ lệ với mức độ hoạt động; bao gồm các khoản chi phí nhƣ: chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí trả lãi tiền vay, chi phí thanh toán,… Chi phí khả biến cấp bậc (biến phí cấp bậc): là loại chi phí không biến động liên tục so với sự biến động liên tục của mức độ hoạt động. Mức độ hoạt động phải đạt đến một ngƣỡng nào đó mới dẫn đến sự biến động về chi phí.
Ví dụ: chi phí tiền lƣơng cho nhân viên. Khoản chi phí này với mức độ hoạt động có sự biến động ít thì phát sinh gần nhƣ không thay đổi nhƣng khi mức độ hoạt động của ngân hàng tăng mạnh với số lƣợng giao dịch lớn, sức ép công việc cao thì số lƣợng nhân viên hiện tại sẽ không đảm bảo đƣợc hiệu quả công việc; đòi hỏi nhà quản trị phải tăng cƣờng tuyển dụng thêm nhân viên nên khoản chi phí này sẽ tăng mạnh. - Chi phí bất biến (định phí) Chi phí bất biến là loại chi phí mà tổng chi phí không thay đổi khi mức độ hoạt động của ngân hàng thay đổi. Ví dụ: chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê văn phòng,… Chi phí bất biến bao gồm hai loại: chi phí bất biến không bắt buộc và chi phí bất biến bắt buộc.
download by : skknchat@gmail.com 4 Chi phí bất biến không bắt buộc (định phí tùy ý) là những chi phí bất biến có thể thay đổi trong từng thời kỳ tùy theo kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Ví dụ nhƣ chi phí quảng cáo tiếp thị, chi phí nghiên cứu khoa học,…. Chi phí bất biến bắt buộc (định phí bắt buộc) là những chi phí liên quan đến việc đầu tƣ cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị,… Chi phí bất biến bắt buộc có đặc điểm: mang tính chất cơ bản, lâu dài, không thể cắt giảm hoàn toàn đƣợc nên các nhà quản trị phải cân nhắc kỹ lƣỡng trƣớc khi đƣa ra quyết định thay đổi đối với loại chi phí này. - Chi phí hỗn hợp Chi phí hỗn hợp là loại chi phí bao gồm cả yếu tố khả biến và bất biến.
Ví dụ: chi phí điện thoại cố định bao gồm tiền thuê bao cố định và cƣớc phí cuộc gọi tính theo phút. Cách phân loại chi phí theo biến phí, định phí hay chi phí hỗn hợp tùy thuộc vào quan điểm của nhà quản trị trong từng thời kỳ với mục đích sử dụng khác nhau. Điều này giúp nhà quản trị đƣa ra quyết định phù hợp trong từng giai đoạn hoạt động kinh doanh.4 Phân loại chi phí theo sự ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương án - Chi phí chênh lệch Chi phí chênh lệch là những khoản chí phí hiện diện trong phƣơng án này nhƣng lại không xuất hiện hoặc chỉ hiện diện một phần trong phƣơng án khác. Ví dụ: ngân hàng cần thanh lý một chiếc xe ô tô, nếu thanh lý cho nhân viên thì ngân hàng sẽ thu về đƣợc 100 triệu đồng.
Tuy nhiên, nếu thanh lý cho khách hàng bên ngoài thì có thể bán với giá 130 triệu đồng nhƣng sẽ tốn một khoản chi phí thông báo về việc thanh lý tài sản trên báo chí là 5 triệu đồng. Nhƣ vậy, chi phí chênh lệch của hai phƣơng án chính là 5 triệu đồng và lợi nhuận chênh lệch là 25 triệu đồng. Chi phí chênh lệch là một trong những căn cứ quan trọng giúp nhà quản trị lựa chọn phƣơng án đầu tƣ hoặc phƣơng án kinh doanh một cách hiệu quả nhất. download by : skknchat@gmail.com 5 - Chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là lợi ích (lợi nhuận) tiềm tàng bị mất đi khi chọn phƣơng án này thay vì chọn phƣơng án khác.
Ví dụ: ngân hàng có đƣợc một khoản huy động vốn là 100 tỷ đồng. Nếu ngân hàng đem gửi số tiền này tại một ngân hàng khác với lãi suất 1.