Luận văn Quản trị truyền thông bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - Đỗ Thu Hằng

Nghiên cứu công tác quản trị truyền thông tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai

Chuyên ngành

Quan hệ công chúng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

150
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản trị truyền thông bảo vệ tư tưởng Đảng

Quản trị hoạt động truyền thông trong bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng đóng vai trò then chốt trong công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đây là nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước giao cho các cơ sở giáo dục, đặc biệt là Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Quản trị truyền thông bao gồm xây dựng chiến lược, tổ chức triển khai và giám sát các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của công chúng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hoạt động này không chỉ giới hạn trong môi trường truyền thống mà còn mở rộng sang không gian mạng, nơi các quan điểm thù địch thường xuyên hoạt động. Theo Nghị quyết số 35-NQ/TW, nhiệm vụ này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành và sự tham gia tích cực của thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên - lực lượng nòng cốt trong lĩnh vực truyền thông.

1.1. Khái niệm quản trị truyền thông trong bảo vệ tư tưởng Đảng

Quản trị truyền thông trong bảo trị tư tưởng Đảng được hiểu là quá trình điều hành, kiểm soát các hoạt động truyền thông nhằm bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng. Quá trình này bao gồm xây dựng kế hoạch truyền thông, lựa chọn kênh truyền tải, giám sát nội dung và đánh giá hiệu quả. Điểm cốt lõi là đảm bảo tính chiến đấu, tính tư tưởng trong mọi sản phẩm truyền thông. Theo quan điểm của Đảng, quản trị truyền thông phải gắn liền với nhiệm vụ chính trị, không tách rời mục tiêu bảo vệ chủ nghĩa xã hội và nền tảng tư tưởng. Điều này đòi hỏi các cơ quan truyền thông phải chủ động, sáng tạo trong việc đưa tin, phản bác kịp thời các thông tin sai lệch, xuyên tạc.

1.2. Vai trò của Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Học viện Báo chí và Tuyên truyền giữ vai trò trung tâm trong đào tạo nguồn nhân lực truyền thông, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng. Với chức năng đào tạo, nghiên cứu và tuyên truyền, học viện là nơi cung cấp kiến thức, kỹ năng cho sinh viên trong lĩnh vực quản trị truyền thông. Thông qua các chương trình học, hội thảo, diễn đàn, học viện định hướng sinh viên nhận diện, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt, học viện còn chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng các sản phẩm truyền thông chất lượng, kịp thời phản bác thông tin sai sự thật. Hoạt động này góp phần nâng cao nhận thức chính trị, củng cố niềm tin của sinh viên vào sự lãnh đạo của Đảng.

II. Thực trạng quản trị truyền thông đối mặt thách thức lớn

Hiện nay, công tác quản trị truyền thông trong bảo vệ tư tưởng Đảng đang đối mặt với nhiều thách thức phức tạp. Sự bùng nổ của mạng xã hội và công nghệ số đã tạo điều kiện cho các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo thông tin, lan truyền quan điểm sai trái. Theo thống kê, 70% thanh niên Việt Nam sử dụng mạng xã hội làm kênh tiếp nhận thông tin chính. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực quản trị truyền thông, đặc biệt trong môi trường số. Bên cạnh đó, một số cán bộ, giảng viên còn thiếu kiến thức chuyên sâu về quản trị truyền thông, dẫn đến hoạt động kém hiệu quả. Thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị cũng là rào cản lớn trong công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái. Những hạn chế này đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ trong phương thức quản trị truyền thông, gắn liền với ứng dụng công nghệ số.

2.1. Thách thức từ môi trường truyền thông số

Môi trường truyền thông số với sự phát triển của mạng xã hội, ứng dụng di động đã thay đổi hoàn toàn cách thức truyền tải thông tin. Các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng để lan truyền thông tin sai lệch, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng. Theo khảo sát, 65% sinh viên tiếp nhận thông tin từ mạng xã hội, trong đó 20% tin vào các nguồn không chính thống. Điều này đòi hỏi các cơ quan quản trị truyền thông phải nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ, xây dựng các ứng dụng, nền tảng kiểm soát thông tin. Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp với các nền tảng mạng xã hội trong việc gỡ bỏ thông tin xấu độc, tuyên truyền chính thống.

2.2. Hạn chế trong công tác quản trị truyền thông

Một trong những hạn chế lớn trong quản trị truyền thông là thiếu sự thống nhất trong phương thức triển khai. Nhiều đơn vị còn chưa xây dựng được chiến lược truyền thông bài bản, thiếu sự phối hợp giữa các cấp, ngành. Ngoài ra, nguồn nhân lực quản trị truyền thông còn thiếu về số lượng và chất lượng, đặc biệt là khả năng ứng dụng công nghệ số. Nhiều cán bộ, giảng viên chưa được đào tạo đầy đủ về kỹ năng quản trị truyền thông trong môi trường số. Thiếu sự đánh giá, giám sát thường xuyên cũng khiến hiệu quả quản trị truyền thông bị giảm sút. Những hạn chế này đòi hỏi sự đổi mới trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị truyền thông

Để nâng cao hiệu quả quản trị truyền thông trong bảo vệ tư tưởng Đảng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp thiết thực. Trước hết, xây dựng chiến lược truyền thông toàn diện, gắn liền với nhiệm vụ chính trị của Đảng. Chiến lược này phải bao gồm kế hoạch hành động cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các đơn vị. Tiếp theo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản trị truyền thông, xây dựng các nền tảng kiểm soát thông tin, giám sát mạng xã hội. Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên về kỹ năng quản trị truyền thông, đặc biệt là trong môi trường số. Ngoài ra, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng, các đơn vị giáo dục trong công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái. Cuối cùng, xây dựng cơ chế khen thưởng, khuyến khích sự tham gia tích cực của sinh viên, cán bộ trong hoạt động truyền thông.

3.1. Xây dựng chiến lược truyền thông toàn diện

Chiến lược truyền thông toàn diện là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị truyền thông. Chiến lược này phải xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, kênh truyền tải và phương thức triển khai. Theo đó, cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể cho từng giai đoạn, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các đơn vị. Đặc biệt, chiến lược phải gắn liền với nhiệm vụ chính trị của Đảng, đảm bảo thông tin chính xác, kịp thời. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá thường xuyên để điều chỉnh chiến lược phù hợp. Chiến lược này cũng cần bao gồm các giải pháp ứng phó với các tình huống khẩn cấp, đảm bảo thông tin được kiểm soát chặt chẽ.

3.2. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số

Ứng dụng công nghệ số là xu thế tất yếu trong quản trị truyền thông hiện đại. Các cơ quan quản trị truyền thông cần đầu tư xây dựng các nền tảng kiểm soát thông tin, giám sát mạng xã hội. Sử dụng trí tuệ nhân tạo, big data để phân tích xu hướng thông tin, phát hiện sớm các quan điểm sai trái. Ngoài ra, xây dựng các ứng dụng di động, nền tảng trực tuyến cung cấp thông tin chính thống cho sinh viên, cán bộ. Cần tăng cường đào tạo cán bộ về kỹ năng sử dụng công nghệ số trong quản trị truyền thông. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ nâng cao hiệu quả quản trị mà còn giúp tiết kiệm chi phí, tăng cường tính minh bạch.

IV. Kết luận và khuyến nghị ứng dụng thực tiễn

Quản trị các hoạt động truyền thông của Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn hệ thống chính trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác quản trị truyền thông đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Để nâng cao hiệu quả, cần tiếp tục đổi mới phương thức quản trị, gắn liền với ứng dụng công nghệ số. Các cơ quan chức năng cần tăng cường phối hợp, xây dựng cơ chế khen thưởng khuyến khích sự tham gia tích cực của sinh viên, cán bộ. Ngoài ra, cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về kỹ năng quản trị truyền thông. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần quan trọng vào nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong thời kỳ mới.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã làm rõ khái niệm, vai trò của quản trị truyền thông trong bảo vệ tư tưởng Đảng. Thực trạng quản trị truyền thông tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho thấy những kết quả đạt được như xây dựng chiến lược truyền thông, ứng dụng công nghệ số bước đầu. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như thiếu sự thống nhất trong triển khai, thiếu nguồn nhân lực chất lượng. Kết quả nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp như xây dựng chiến lược toàn diện, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, tăng cường đào tạo cán bộ. Những giải pháp này được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả quản trị truyền thông trong thời gian tới.

4.2. Đề xuất khuyến nghị cho Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Để nâng cao hiệu quả quản trị truyền thông, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cần xây dựng chiến lược truyền thông toàn diện, gắn liền với nhiệm vụ chính trị của Đảng. Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản trị truyền thông, xây dựng các nền tảng kiểm soát thông tin, giám sát mạng xã hội. Ngoài ra, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về kỹ năng quản trị truyền thông, đặc biệt là trong môi trường số. Học viện cũng cần xây dựng cơ chế khen thưởng, khuyến khích sự tham gia tích cực của sinh viên, cán bộ trong hoạt động truyền thông. Cuối cùng, tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng, các đơn vị giáo dục trong công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Quản trị các hoạt động truyền thông của học viện báo chí tuyên truyền trong bảo vệ nền tảng tư đảng của đảng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN TRỊ CÁC HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH 1. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch 1. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là khái niệm không mới, đã xuất hiện ngay từ những ngày đầu Đảng ta thành lập và trở thành nhiệm vụ hàng đầu, xuyên suốt quá trình hoạt động, xây dựng. Nền tảng tư tưởng của Đảng Nền tảng tư tưởng của Đảng là hệ thống lý luận và là cơ sở khoa học – thực tiễn về xây dựng Đảng, về nguyên tắc hoạt động của Đảng, về định hướng phát triển của Đảng, về mục tiêu đấu tranh cách mạng của Đảng,… Một Đảng chính trị (chính Đảng) nhất thiết phải có một nền tảng tư tưởng riêng của nó và không được tác rời nền tảng tư tưởng đó, trừ khi muốn biến nó thành một Đảng hay một tổ chức khác.

VI Lênin đã từng viết trong tác phẩm “Làm gì?” xuất bản năm 1902: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”, “chỉ Đảng nào có được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong” (V. Lênin: Toàn tập, t.6, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1975, tr. Qua đó có thể thấy vai trò quan trọng của nền tảng tư tưởng, của cơ sở lý luận – khoa học trong việc xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng. Để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đổi mới Đảng ta phải không ngừng đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực và sức 13 chiến đấu của Đảng, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, phát triển và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mọi mặt.

Chúng ta phải xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Nền tảng tư tưởng của Đảng ta vừa mang tính cách mạng vừa có tính khoa học sâu sắc. Từ ngày ra đời, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong tác phẩm Đường kách mệnh: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.

Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, t. Chủ nghĩa Lênin theo Hồ Chí Minh chính là học thuyết cách mạng của Lênin dựa trên sự kế thừa, vận dụng và phát triển học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học do Mác và Ăngghen khởi xướng. Tính “chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất” không chỉ đúng trong hoàn cảnh của những thập niên đầu thế kỷ XX mà còn đúng với giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã nhấn mạnh, Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh… Rõ ràng, trong bối cảnh hiện nay, để xây dựng và phát triển đất nước không còn con đường nào khác ngoài con đường xã hội chủ nghĩa, mà trên thực tế con đường này đã khẳng định sự thành công rõ nét, thể hiện qua các thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và thành tựu của công cuộc đổi mới.

Do đó, nền tảng tư tưởng đã được Đảng xác định sẽ tiếp tục soi sáng đường đi tới cho cách mạng Việt Nam. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng 14 Có thể thấy nền tảng tư tưởng của Đảng là vô cùng quan trọng, đóng vai trò kim chỉ nam, bộ xương sống để giữ vững sự phát triển và đi lên của Đảng ta nói riêng và Việt Nam nói chung. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bản chất là bảo vệ Tư tưởng Hồ Chí Minh, Chủ nghĩa Mác – Lê nin. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ sống còn, mang tính tiên quyết trong công cuộc xây dựng Đảng và Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bên cạnh đó, Đảng ta cũng đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng ta đã chỉ ra những thách thức, những nguy cơ lớn đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. “Những thách thức là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới…; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa…; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau” (Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (lưu hành nội bộ), tr.

Các nguy cơ này vẫn hiện hữu và đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, điều này tiếp tục được khẳng định trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016): “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí…” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 15 Do đó, nhiệm vụ đầu tiên và hết sức quan trọng là phải quán triệt trong hệ thống chính trị về vai trò, tầm quan trọng của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, để mọi cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng đắn về công tác này, đồng thời tránh lơ là, chủ quan, mất cảnh giác. Theo TS Lương Ngọc Vĩnh, trong một bài viết trên Tạp chí Tuyên giáo, số tháng 2/2020: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, không thể bằng một vài chiến dịch, cuộc vận động mà có thể thành công.

Để giành thắng lợi, đòi hỏi trước tiên là phải có nhận thức đúng mục tiêu, đối tượng, từ đó xác định đúng nội dung, phương thức đấu tranh phù hợp”. Cuộc đấu tranh này là nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ các thành quả của Đảng, bảo vệ con đường đấu tranh cách mạng của Đảng, nhằm đem lại lợi ích của tất cả cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến trình cách mạng của thế giới. Do đó, không thể xem đây là công việc của các cơ quan chuyên trách (Hội đồng Lý luận Trung ương, các ban tuyên giáo,…), của cấp ủy, của các cơ quan truyền thông,… mà phải là trách nhiệm, nghĩa vụ của tất cả các cán bộ, đảng viên. Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động.

Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học công nghệ, internet và các nền tảng mạng xã hội; các thế lực thù địch luôn có các chiêu thức, thủ đoạn mới để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, nhất là trên môi trường mạng xã hội. Do đó, cần nhận thức đầy đủ về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; các thế lực thù địch; âm mưu, thủ đoạn; từ đó có giải pháp phòng, chống hiệu quả. Đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch Quan điểm sai trái, thù địch Theo TS.

Huỳnh Thanh Hiếu (Trường Chính trị tỉnh Hậu Giang), khái niệm “quan điểm sai trái, thù địch” có thể khái quát “là những lời nói, bài viết, hành động,… của cá nhân/nhóm xã hội (chủ thể) phản ánh không đúng (sai trái) thực tế đời sống chính trị, kinh tế, xã hội,… của một quốc gia, “thổi phồng” tiêu cực, “bơm căng” mâu thuẫn, “bóp méo” chính sách thực tế với mục đích làm thay đổi, sụp đổ chế độ chính trị, tan rã hệ thống chính quyền, gây mất đoàn kết trong nhân dân,… hướng đến mục tiêu thiết lập nên một chế độ chính trị, một chính quyền mới theo mong muốn của chủ thể” (Nhận diện một số quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và cách mạng nước ta, https://www.vn/nghien-cu/-/2018/817029/nhan- dien-mot-so-quan-diem-sai-trai%2C-thu-dich-chong-pha-dang%2C-nha- nuoc-va-cach-mang-nuoc-ta.aspx) Những quan điểm sai trái, thù địch thường được triển khai bằng cách tung ra các khẩu hiệu, những lời tuyên bố, phân tích, đánh giá không đúng sự thật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm khiêu khích, bôi nhọ, đe dọa, gây mâu thuẫn trong nội bộ hệ thống chính trị quốc gia; đào sâu, xuyên tạc các mâu thuẫn vốn có trong cơ chế, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn giữa chính quyền với các tầng lớp nhân dân; gây mâu thuẫn giữa quốc gia này với các quốc gia khác về các vấn đề kinh tế, chính trị, biên giới, quốc phòng, an ninh;… để chuyển hóa dần ý thức xã hội, tiến tới hình thành những hoạt động tiêu cực hướng đến xóa bỏ chế độ chính trị đương thời. Quan điểm sai trái, thù địch luôn xuất hiện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta với nhiều mức độ và thủ đoạn ngày càng tinh vi, diễn biến ngày càng phức tạp, phạm vi chống phá ngày càng rộng lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ