mở đầu. Nguyên nhân thứ hai là do chính sách giáo dục của thực dân Pháp. Sau khi đặt ách đô hộ lên toàn Đông Dương, Pháp đã tiến hành các hoạt động nhằm chuyển thủ đô Đông Dương từ Sài Gòn ra Hà Nội, trong đó có việc xây dựng hệ thống trường cao đẳng và đại học. Từ 1900 – 1925, trên 10 trường đã được thành lập mà không có trường nào đặt trụ sở tại Sài Gòn cũng như toàn Nam bộ, tất cả đều ở Hà Nội [3;135-137].
Do đó, vào thập niên 20 của thế kỷ XX, Hà Nội cũng như Bắc – Trung bộ đã có những thế hệ trí thức tân học chính thống, bao gồm học sinh, sinh viên, công chức có trình độ cao hơn nhiều so với trí thức Nam bộ bấy giờ hầu hết chỉ tốt nghiệp tiểu học, trung học Pháp Việt. Hệ quả là trong khi văn học Nam bộ, trong đó có tiểu thuyết, còn đang duy trì lối viết sao cho dễ đọc thì ở Bắc bộ văn học được thúc đẩy phát triển bằng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng tiến bộ của công chúng. Xét về nội dung phản ánh, tiểu thuyết Nam bộ đầu thế kỷ XX có nhiều khuynh hướng khó phân định rõ rệt, vì vậy cho đến nay sự phân loại tiểu thuyết Nam bộ 15 đầu thế kỷ XX ở các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất. Võ Văn Nhơn chia làm 4 loại: tiểu thuyết tâm lý – tình cảm, tiểu thuyết hành động, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết thế sự [14;126].
Lê Tú Anh chia thành 7 loại: tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết ái tình, tiểu thuyết giáo huấn, tiểu thuyết nghĩa hiệp, tiểu thuyết tự thuật [2;48-61]… Các đề xuất này đều chưa giải quyết thỏa đáng yêu cầu song đối tượng phân loại quá phức tạp nên đó cũng là điều dễ hiểu. Nói chung, tiểu thuyết Nam bộ giai đoạn này phản ánh được nhiều khía cạnh của đời sống Nam bộ đương thời, từ những nét sinh hoạt đặc trưng của vùng miền đến những thay đổi do ảnh hưởng của văn minh phương Tây, cả về vật chất lẫn tình cảm, suy nghĩ; không gian tác phẩm trải dài từ Chợ Lớn, Sài Gòn đến những vùng đất lân bang; thế giới nhân vật phong phú: từ những con người lý tưởng đúng chuẩn trung hiếu tiết nghĩa, những anh hùng hành hiệp đầy phóng khoáng, những chàng trai cô gái táo bạo đi đến tận cùng cảm xúc yêu đương, những kẻ bạc tình cạn nghĩa, những nhân vật lịch sử có thật… tất cả đều có thể tìm thấy trong khối lượng đồ sộ của tiểu thuyết Nam bộ đầu thế kỷ XX. Về giá trị nghệ thuật, tiểu thuyết Nam bộ giai đoạn này đã tiến được một bước đáng kể là xây dựng câu văn từ lối biền ngẫu mang đậm dấu vết của văn học trung đại sang câu văn xuôi như lời nói thường ngày. Bên cạnh đó, nhà văn cũng đã bắt đầu chú ý đến việc phân tích tâm lý nhân vật, đặt nhân vật giữa hai mặt tốt – xấu nhằm nắm bắt thế giới bên trong vừa sâu kín vừa đa dạng của của con người.
Thêm vào đó là sự manh nha những phương thức kết cấu khác kết cấu theo thời gian tuyến tính như kết cấu lồng khung, kết cấu theo tâm lý nhân vật… Đáng tiếc rằng những thành tựu này chưa đi đến điểm cùng của nó, thậm chí sau đó do không nắm bắt kịp sự tiến bộ của tiểu thuyết Bắc bộ nên những thành công bước đầu này trở nên cũ kỹ, lạc hậu. Đến khoảng 1932, tiểu thuyết Nam bộ đã kết thúc vai trò của nó trong việc mở đường và nhường lại công cuộc phát triển tiểu thuyết hiện đại cho các sáng tác ở Bắc bộ.2 Sự thể hiện quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX Đóng góp của một trào lưu, hay một hiện tượng văn học vào tiến trình phát triển chung không chỉ thể hiện ở những cách tân nghệ thuật trong tác phẩm mà còn ở chỗ hiện tượng, trào lưu đó đã tác động như thế nào đến việc đổi mới quan niệm nghệ thuật và tư duy sáng tác. Tiểu thuyết là một thể loại thay đổi rất nhiều theo thời gian và vẫn đang tiếp tục thay đổi. Lý thuyết thể loại về tiểu thuyết, do đó rất được giới làm văn học chú ý.
Đối với tiểu thuyết hiện đại Việt Nam, khi mới ra đời nó đã được công chúng chào đón, do vậy làng văn, làng báo cũng có những phát biểu về thể loại mới này. Xét trên phạm vi cả nước, Nam bộ tuy có những tiểu thuyết gia hiện đại sớm hơn so với Bắc bộ nhưng về việc thể hiện quan niệm thể loại thì ở Bắc bộ công việc này được tiến hành tốt hơn rất nhiều. Với tình hình tài liệu hiện nay, chúng ta có Khảo về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh, Khảo về tiểu thuyết của Vũ Bằng ở Bắc bộ và Lược khảo về sự tiến hoá của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết của Trúc Hà (đăng trên Nam Phong tạp chí, 1932), Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn, Đời của tôi – 2. Về văn nghệ của Hồ Biểu Chánh ở Nam bộ1.
Tuy vậy tác phẩm quan trọng nhất trong số đó là cuốn của Phạm Quỳnh đã được viết song song với quá trình hình thành của thể loại tiểu thuyết tại Bắc bộ, rất hệ thống và hiện đại. Ngoài ra Nam phong tạp chí trong khi đăng các tác phẩm dịch cũng đã giới thiệu về các lối văn xuôi hiện đại phương Tây rất bài bản. Cuốn của Vũ Bằng viết sau 1945 nhưng cũng dày dặn, công phu. Trong khi đó Lược khảo về sự tiến hoá của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết chỉ bao quát sự phát triển của tiểu thuyết Bắc bộ từ 1919 đến 1932, Phê bình và cảo luận (1933) có một độ lùi thời gian và chủ yếu là sách phê bình tác phẩm, tác giả; còn sách của Hồ Biểu Chánh là cuốn hồi ký sau 1945 chỉ đề cập sơ qua về tiểu thuyết của ông.
Các bài trực tiếp thể hiện quan niệm về thể loại tiểu thuyết của nhà văn Nam bộ còn khá hạn chế về cả dung lượng và chất lượng. 1 “Bắc bộ” và “Nam bộ” ở đây được xét theo nơi hoạt động văn học trong khoảng thời gian 1900-1932 chứ không căn cứ vào quê quán của tác giả. 17 Phương thức thể hiện quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Nam bộ đầu thế kỷ XX có hai con đường chính: qua báo chí và qua tác phẩm được xuất bản. Báo chí đã theo chân người Pháp vào Việt Nam.
Bước đầu chỉ có vài tờ báo do Pháp đứng ra chủ trương nhằm công bố các sắc lệnh của chính phủ thực dân và đăng tin tức. Sau này có thêm các tờ báo do người Việt sáng lập và trực tiếp đứng ra làm chủ bút. Các đầu báo mới xuất hiện ngày càng nhiều, điều đặc biệt là hầu như tờ báo nào cũng có riêng một mục về văn chương, hoặc là đăng sáng tác của các văn sĩ trong nước, hoặc là dịch Hán văn cũng như Pháp văn, có báo ra hẳn một phụ trương về văn chương. Báo chí phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ, tạo nên không khí văn chương trong xã hội.
Báo chí phát triển mạnh mẽ, rầm rộ, trở thành con đường chính đưa các văn sĩ mới khởi nghiệp đến với độc giả. Nhiều nhà văn Nam bộ đồng thời là nhà báo hoặc có một thời gian hoạt động trong ngành báo (Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Trương Duy Toản, Lê Hoằng Mưu, Nam Đình Nguyễn Thế Phương, Nguyễn Ý Bửu, Biến Ngũ Nhy, Phạm Minh Kiên, Phú Đức, Bửu Đình…). Quãng thời gian làm báo đã hỗ trợ không ít cho sự nghiệp văn chương của họ. Không chỉ đăng thơ văn, báo chí còn góp phần lớn vào công việc phê bình văn học.
Các cuộc tranh luận văn học lấy báo chí làm nơi luận chiến, các bên đều dùng báo chí để đáp trả lẫn nhau. Các cuộc diễn thuyết về văn chương đều được tường thuật chi tiết trên các báo. Báo chí đã thúc đẩy sự phát triển của văn học cả về lĩnh vực sáng tác và phê bình. Với tiểu thuyết ở Nam bộ đầu thế kỷ XX ít thấy các cuộc tranh luận trên báo chí như với Thơ Mới, đáng kể chỉ có cuộc tranh luận về tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu, song đáng tiếc là kết quả của nó lại khiến tác giả phiền lòng và sa sút tinh thần sáng tác.
Sự thể hiện quan niệm về tiểu thuyết trên báo chí chủ yếu là qua các bài viết mang tính bàn luận, nêu ý kiến một cách sơ lược. Văn học là một mảng quan trọng trên báo chí bấy giờ, hầu như tờ báo nào cũng có mục riêng cho văn học. Theo thống kê của Đoàn Lê Giang, trước 1945 ở Nam bộ có khoảng 50 tờ báo hoạt động, và gần một nửa trong số đó dành nhiều dung 18 lượng cho văn học [8;9]. Quan niệm về tiểu thuyết có thể được thể hiện ở các bài trong mục cố định về văn chương và cũng có thể được thể hiện rải rác không có quy tắc nào cả.
Các loại bài đăng trên báo có đề cập đến quan niệm về tiểu thuyết gồm những loại sau: bàn luận về văn học, giới thiệu sách, quảng cáo sách, tranh luận, thể lệ cuộc thi viết văn. Tác giả của các bài viết này có hai đối tượng. Các bài giới thiệu sách, quảng cáo sách hay thể lệ cuộc thi viết văn là do chính tòa báo đảm nhận, khác với mục chuyên đăng tác phẩm văn học – thường có tên Văn uyển – được dành cho những phần diện tích riêng, cố định, thường xuyên trên tờ báo thì các bài này được đăng xen lẫn với nhiều loại bài mà không có tiêu chí nào, chẳng qua là tận dụng một phần mặt báo còn trống. Vì thế chúng ta thấy có những cuộc thi sáng tác tiểu thuyết rất ít người tham gia, một phần là do vào lúc cuộc thi được tổ chức thì lực lượng sáng tác chưa phát triển, nhưng cũng có một lý do là cách trình bày thể lệ cuộc thi làm người ta không chú ý đến nó, nếu có đọc cũng dễ quên.
Trên báo Đồng Nai số 16 ngày 01/10/1932 có thể lệ cuộc thi đoản thiên tiểu thuyết, trình bày chỉ vài dòng trong một ô nhỏ, chỉ đăng trong một số duy nhất, từ đó đến hết năm không thấy nhắc lại nữa.