Luận án tiến sĩ văn học diện mạo mảng văn xuôi viết về đề tài đồng tính ở việt nam từ đầu thế kỷ xx đến nay

Luận án tiến sĩ văn học khám phá diện mạo văn xuôi về đề tài đồng tính tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân tích sâu sắc các tác phẩm tiêu biểu.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

191
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan lý thuyết về đề tài đồng tính

1.2. Đồng tính luyến ái dưới góc nhìn lịch sử - xã hội

1.3. Giới thuyết về một số khái niệm được sử dụng trong luận án

1.4. Một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài luận án

1.5. Lịch sử sáng tác về đề tài đồng tính trong văn học thế giới và Việt Nam

1.5.1. Đề tài đồng tính – “người quen muôn năm cũ” của văn học nhân loại

1.5.2. Những tự sự đồng tính trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XX đến nay : “từ hình thức ngụy trang đến các tự thuật thú nhận”

1.6. Tình hình nghiên cứu, phê bình văn xuôi đề tài đồng tính ở Việt Nam

1.6.1. Những công trình nghiên cứu mang tính lược thuật, tổng quan về đề tài đồng tính

1.6.2. Những công trình nghiên cứu trên đối tượng tác giả, tác phẩm đơn lập

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: VĂN XUÔI VIỆT NAM VIẾT VỀ ĐỒNG TÍNH TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN ĐỔI MỚI

2.1. Đồng tính trong văn xuôi từ góc nhìn sinh thái hành vi

2.2. Sinh thái hành vi – cách tiếp cận trực quan với vấn đề đồng tính

2.3. Những biểu hiện sinh thái hành vi trong văn xuôi viết về đồng tính

2.4. Cảm quan đồng tính hay đồng tính trong văn xuôi dưới khía cạnh tâm lý

2.5. Tâm lý, cảm xúc như một yếu tố phức tạp của tình trạng đồng tính

2.6. Xuân Diệu và những ẩn dụ về xúc cảm đồng giới trong văn xuôi

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: VĂN XUÔI ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH VIỆT NAM TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

3.1. Xã hội Việt Nam từ sau Đổi mới với sự hình thành một bộ phận văn chương mang tiếng nói thiểu số

3.2. Văn xuôi đề tài đồng tính từ sau Đổi mới đến nay: đặc điểm nổi bật và trường hợp điển hình

3.3. Một vài đặc điểm cơ bản của văn xuôi về đồng tính ở Việt Nam sau 1986

3.4. Bùi Anh Tấn – “người viết sâu nhất và nhiều nhất về giới LGBT”

3.5. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: TIẾP NHẬN VĂN XUÔI ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH ĐƯƠNG ĐẠI

4.1. Văn xuôi đồng tính với tâm lý kỳ thị đồng tính trong xã hội Việt Nam

4.2. Về tâm lý kỳ thị đồng tính

4.3. Nhận diện tâm lý kỳ thị đồng tính qua tiếp nhận văn xuôi đồng tính Việt Nam

4.4. Văn xuôi đồng tính trong quan hệ với thị trường và các hoạt động văn hóa liên quan

4.4.1. “Mỹ văn”, “văn học thị trường”, “văn học đại chúng”: những thay đổi trong quan niệm

4.4.2. Văn xuôi đồng tính trong quan hệ với các hoạt động văn hóa liên quan

4.4.3. Đọc/phê bình văn học đồng tính trong không gian trường học. Văn chương đồng tính và “vùng cấm” trong văn học nhà trường

4.4.4. Giảng dạy văn chương đồng tính: từ thế giới nhìn về Việt Nam

4.5. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Luận án tiến sĩ Diện mạo văn xuôi về đề tài đồng tính tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX tập trung vào việc phân tích và tổng hợp các tác phẩm văn học liên quan đến đề tài đồng tính trong bối cảnh văn học Việt Nam. Đề tài này không chỉ phản ánh sự phát triển của văn học mà còn là một phần quan trọng trong việc hiểu biết về văn học Việt Nam hiện đại. Các tác phẩm được nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX đến nay cho thấy sự thay đổi trong cách nhìn nhận và thể hiện văn học đồng tính. Những tác phẩm này thường được viết dưới hình thức ngụy trang, phản ánh sự e dè của xã hội đối với vấn đề này. Luận án cũng chỉ ra rằng, mặc dù văn xuôi về đồng tính chưa được đánh giá đúng mức, nhưng nó đã có những đóng góp quan trọng trong việc khẳng định sự tồn tại của cộng đồng LGBT tại Việt Nam.

1.1. Tổng quan lý thuyết về đề tài đồng tính

Nghiên cứu về đồng tính không chỉ dừng lại ở khía cạnh văn học mà còn mở rộng ra các lĩnh vực xã hội, tâm lý và văn hóa. Các lý thuyết hiện đại như Lệch pha họcNữ quyền đồng tính luận được áp dụng để phân tích sự phát triển của văn xuôi về đồng tính. Những lý thuyết này giúp làm rõ hơn về bản chất của đồng tính luyến ái trong bối cảnh lịch sử và xã hội. Đặc biệt, sự thay đổi trong nhận thức về đồng tính từ góc độ y học và xã hội đã tạo điều kiện cho việc công khai hóa vấn đề này trong văn học. Các tác phẩm văn học không chỉ phản ánh thực tế mà còn góp phần định hình nhận thức xã hội về đồng tính.

1.2. Đồng tính luyến ái dưới góc nhìn lịch sử xã hội

Lịch sử đồng tính luyến ái trên thế giới cho thấy sự tồn tại của nó từ rất sớm, với nhiều nền văn hóa đã chấp nhận và tôn vinh các mối quan hệ đồng giới. Tại Việt Nam, đồng tính đã có mặt từ lâu nhưng thường bị che giấu dưới những hình thức ngụy trang. Sự phát triển của văn học về đồng tính phản ánh những thay đổi trong tư duy xã hội, từ việc coi đồng tính là một căn bệnh đến việc công nhận nó như một phần tự nhiên của đời sống con người. Những tác phẩm văn học đầu thế kỷ XX thường mang tính ẩn dụ, thể hiện sự e ngại của tác giả trước những định kiến xã hội. Tuy nhiên, từ sau Đổi mới, văn xuôi về đồng tính đã dần trở nên phong phú và đa dạng hơn, phản ánh sự thay đổi trong nhận thức và thái độ của xã hội đối với vấn đề này.

II. Văn xuôi Việt Nam viết về đồng tính từ đầu thế kỷ XX đến Đổi mới

Chương này tập trung vào việc phân tích các tác phẩm văn xuôi viết về đồng tính từ đầu thế kỷ XX đến trước Đổi mới. Các tác phẩm này thường được viết dưới hình thức ngụy trang, phản ánh sự e dè của xã hội đối với vấn đề đồng tính. Những tác phẩm như vậy thường không đề cập trực tiếp đến đồng tính luyến ái, mà thường sử dụng các hình thức ẩn dụ để thể hiện cảm xúc và tâm tư của nhân vật. Điều này cho thấy sự khó khăn trong việc thể hiện đồng tính trong bối cảnh văn hóa và xã hội Việt Nam thời kỳ đó. Tuy nhiên, những tác phẩm này vẫn có giá trị lớn trong việc khẳng định sự tồn tại của đồng tính trong văn học Việt Nam.

2.1. Đồng tính trong văn xuôi từ góc nhìn sinh thái hành vi

Phân tích đồng tính từ góc nhìn sinh thái hành vi cho thấy sự tương tác giữa các nhân vật trong tác phẩm văn học. Những biểu hiện của đồng tính không chỉ là hành vi mà còn là cảm xúc, tâm lý của nhân vật. Các tác phẩm văn xuôi thường thể hiện sự đấu tranh nội tâm của nhân vật khi phải đối mặt với định kiến xã hội. Điều này cho thấy rằng, đồng tính không chỉ là một vấn đề cá nhân mà còn là một vấn đề xã hội cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc. Các tác phẩm này không chỉ phản ánh thực tế mà còn góp phần định hình nhận thức xã hội về đồng tính.

2.2. Cảm quan đồng tính hay đồng tính trong văn xuôi dưới khía cạnh tâm lý

Khía cạnh tâm lý trong các tác phẩm văn xuôi viết về đồng tính cho thấy sự phức tạp trong cảm xúc và tâm tư của nhân vật. Những tác phẩm này thường thể hiện sự mâu thuẫn giữa cảm xúc cá nhân và áp lực xã hội. Xuân Diệu, một trong những nhà thơ nổi tiếng, đã sử dụng nhiều ẩn dụ để thể hiện cảm xúc đồng giới trong văn xuôi của mình. Điều này cho thấy rằng, đồng tính không chỉ là một vấn đề về tình dục mà còn là một vấn đề về tâm lý và cảm xúc. Các tác phẩm này không chỉ phản ánh thực tế mà còn góp phần định hình nhận thức xã hội về đồng tính.

III. Văn xuôi đề tài đồng tính Việt Nam từ Đổi mới đến nay

Chương này phân tích sự phát triển của văn xuôi về đồng tính từ sau Đổi mới đến nay. Sự thay đổi trong nhận thức xã hội đã tạo điều kiện cho các tác phẩm văn học về đồng tính phát triển mạnh mẽ hơn. Các tác phẩm này không chỉ phản ánh thực tế mà còn thể hiện sự đấu tranh cho quyền lợi của cộng đồng LGBT. Những tác phẩm tiêu biểu như của Bùi Anh Tấn đã mở ra một hướng đi mới cho văn học đồng tính tại Việt Nam. Điều này cho thấy rằng, đồng tính đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn học hiện đại.

3.1. Xã hội Việt Nam từ sau Đổi mới với sự hình thành một bộ phận văn chương mang tiếng nói thiểu số

Sau Đổi mới, xã hội Việt Nam đã có những thay đổi lớn về tư duy và nhận thức. Văn xuôi về đồng tính đã dần trở thành một phần quan trọng trong văn học hiện đại. Những tác phẩm này không chỉ phản ánh thực tế mà còn thể hiện sự đấu tranh cho quyền lợi của cộng đồng LGBT. Sự xuất hiện của các tác phẩm văn học về đồng tính đã tạo ra một không gian cho những tiếng nói thiểu số, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam. Điều này cho thấy rằng, đồng tính đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn học hiện đại.

3.2. Một vài đặc điểm cơ bản của văn xuôi về đồng tính ở Việt Nam sau 1986

Các tác phẩm văn xuôi về đồng tính sau 1986 thường mang tính hiện thực và phản ánh sâu sắc những vấn đề xã hội. Những tác phẩm này không chỉ đề cập đến đồng tính mà còn thể hiện những khía cạnh khác của đời sống xã hội. Điều này cho thấy rằng, đồng tính không chỉ là một vấn đề cá nhân mà còn là một vấn đề xã hội cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc. Các tác phẩm này không chỉ phản ánh thực tế mà còn góp phần định hình nhận thức xã hội về đồng tính.

IV. Tiếp nhận văn xuôi đề tài đồng tính Việt Nam trong bối cảnh đương đại

Chương này phân tích sự tiếp nhận của xã hội đối với văn xuôi về đồng tính trong bối cảnh hiện đại. Sự kỳ thị và định kiến vẫn còn tồn tại, nhưng ngày càng có nhiều người chấp nhận và ủng hộ cộng đồng LGBT. Các tác phẩm văn học về đồng tính đã góp phần làm thay đổi nhận thức xã hội, tạo ra một không gian cho những tiếng nói thiểu số. Điều này cho thấy rằng, đồng tính đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn học hiện đại.

4.1. Văn xuôi đồng tính với tâm lý kỳ thị đồng tính trong xã hội Việt Nam

Tâm lý kỳ thị vẫn còn tồn tại trong xã hội Việt Nam, nhưng ngày càng có nhiều người chấp nhận và ủng hộ cộng đồng LGBT. Các tác phẩm văn học về đồng tính đã góp phần làm thay đổi nhận thức xã hội, tạo ra một không gian cho những tiếng nói thiểu số. Điều này cho thấy rằng, đồng tính đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn học hiện đại.

4.2. Văn xuôi đồng tính trong quan hệ với thị trường và các hoạt động văn hóa liên quan

Sự phát triển của văn xuôi về đồng tính không chỉ phản ánh thực tế mà còn thể hiện sự đấu tranh cho quyền lợi của cộng đồng LGBT. Các tác phẩm này đã tạo ra một không gian cho những tiếng nói thiểu số, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam. Điều này cho thấy rằng, đồng tính đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn học hiện đại.

21/02/2025
Luận án tiến sĩ văn học diện mạo mảng văn xuôi viết về đề tài đồng tính ở việt nam từ đầu thế kỷ xx đến nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan lý thuyết về đề tài đồng tính 1. Đồng tính luyến ái dưới góc nhìn lịch sử - xã hội 1. Hiện tượng đồng tính luyến ái trên thế giới Trong công trình Dẫn luận về tính dục (Sexuality: a very short introduction), tác giả Veronique Mottier đã dẫn câu chuyện của nhà hiền triết cổ đại Platon về nguồn gốc con người để bắt đầu những diễn giải của bà về hoạt động tính dục của nhân loại trong thời hồng hoang, theo đó loài người ban đầu vốn được phân chia thành ba giới tính: nhóm thứ nhất có hai bộ phận sinh dục nam, nhóm thứ hai có hai bộ phận sinh dục nữ và nhóm thứ ba là loài lưỡng tính, có một bộ phận sinh dục nam và một bộ phận sinh dục nữ.

Vì làm mếch lòng các vị thần, chúa tể Zeus đã tách đôi các nửa của mỗi nhóm sinh vật ấy như một sự trừng phạt khiến cho họ suốt đời phải khổ sở mỏi mòn trong cuộc kiếm tìm lại nửa kia của mình. Đó là đầu mối của những rắc rối về sau khi một người nam (hoặc nữ) không hứng thú với người có bộ phận sinh dục khác mình mà lại quan tâm và theo đuổi những sinh vật cùng giới với anh ta (hoặc cô ta). Lịch sử nhân loại cũng từng ghi nhận những dị biệt về tính dục cách đây hàng ngàn năm. Với cuốn Quan hệ tình ái trong các cộng đồng, các tôn giáo, các nền văn hóa, học giả người Ba Lan Zbigniewlew Starowicz đã chỉ ra rằng: con người ngay từ buổi ấu thơ của mình đã phải đối diện với những vấn đề nan giải thuộc về thiên hướng tình dục và bản dạng giới.

Starowicz khẳng định đồng tính luyến ái là “hiện tượng tồn tại trong hầu hết các phong tục tình dục thế giới. Có tới 2/3 nền văn hóa sơ khai tán thành các quan hệ và hành vi tình dục này” [84,144]. Thậm chí, ngay tại một quốc gia phương Đông vốn khắt khe với những động thái tình dục dị biệt là Nhật Bản thì cách đây hơn một nghìn năm, những thành viên của giáo phái Shingon (một tông phái Phật giáo) đã coi sự luyến ái với các chú tiểu là 6 một phần không thể thiếu của nghi thức truyền đạo. Lịch sử thi ca ở xứ sở Trung Đông huyền bí ngay từ thời kỳ trung cổ đã xuất hiện những vần thơ của các nhà thơ Hồi giáo về những thiếu niên trẻ tuổi chuyên hầu rượu và chia sẻ chuyện tình dục trong một tinh thần tụng ca hoan lạc.

Trong khi đó, tại các nước vùng Trung Á, trên con đường tơ lụa nổi tiếng cũng đã sản sinh ra một nền văn hóa đồng tính đặc biệt, tương tự như các quốc gia Trung đông láng giềng. Những chứng cớ mỹ thuật và văn học về đồng tính luyến ái chủ yếu được phát hiện ngay từ thời cổ đại ở Hy Lạp, nơi dung dưỡng và duy trì các mối quan hệ đồng tính qua không gian và thời gian dưới sự bảo hộ của luật lệ cộng đồng. Theo đó mối quan hệ thân mật giữa một người đàn ông đã trưởng thành (thường lớn tuổi) và một thiếu niên có ý nghĩa giáo dục, truyền đạt kinh nghiệm hơn là tìm kiếm và thỏa mãn lạc thú thân xác. Có ý kiến cho rằng, bản thân việc này đồng thời còn là một phương cách hữu hiệu để kiểm soát tốc độ gia tăng dân số (theo chiều hướng hạn chế) của bộ phận dân cư.

Trong thời đại “hoàng kim” của tình dục đồng giới ở xã hội Hi-La cổ đại, nghi thức tôn giáo Hy Lạp đã vinh danh đồng tính để xác nhận sự trưởng thành của trẻ vị thành niên. Trong khi đó, tại một số quốc gia ở Châu Mỹ, tiêu biểu như trong các cộng đồng thổ dân Bắc Mỹ, người đồng tính được xem là người có hai linh hồn. Họ nghiễm nhiên nhận được sự công nhận và kính trọng của toàn thể bộ lạc. Người dân tin rằng, những thầy pháp này là một kiểu thầy pháp đặc biệt vì họ luôn có nhiều quyền năng hơn các thầy pháp thông thường.

Điều đó có vẻ rất giống với một số quốc gia vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Nhìn lại lịch sử phát triển của hiện tượng, dưới góc độ y học, có giai đoạn người ta từng cho rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh và những người đồng tính bị cộng đồng kỳ thị như những kẻ bệnh hoạn đáng khinh. Mãi đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự tiến bộ của ngành khoa học tâm lý, các nhà khoa học đã đủ cơ sở để đi đến kết luận loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh mục bệnh, đồng thời bước đầu đưa ra những minh chứng nghiêm túc, cẩn trọng về bản chất tự nhiên của luyến ái đồng tính ở các loài sinh vật. Hiện tượng đồng tính luyến ái tại Việt Nam Việt Nam, cũng giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, thứ tình dục khác thường này hẳn đã có mặt từ sớm.

Tuy nhiên, xuất phát từ một nước nông nghiệp với tín ngưỡng phồn thực nguyên thủy sâu đậm, người Việt cổ không tán thành những hành vi tình dục đồng tính (vì nó không thúc đẩy khả năng sinh sản và sự phồn thịnh của giống nòi - yếu tố được coi là quan trọng bậc nhất của sản xuất nông nghiệp). Đó là lý do vì sao trong khi hệ thống folklore ở các nước phương Tây (thuộc nền văn hóa du mục) rất phong phú những câu chuyện kể về mối tình đồng tính giữa các vị thần thì thần thoại Việt Nam lại hoàn toàn xa lạ với đề tài này.Tuân theo quy luật Âm - Dương hoán chuyển của tự nhiên, người Việt từ xa xưa đã nhận thức rất rõ về đầu mối duy trì sự tồn tại của muôn loài là việc kết hợp của cặp Đực - Cái. Mọi sự không theo quy luật chung đó đều bị xem là dị biệt và không được khuyến khích. Tuy vậy, những trường hợp thuộc về chuyển giới tính (transgendering) ở cấp độ y phục (đảo trang - transvestism) không phải hiếm gặp trong văn hóa Việt Nam.

Trưởng thành trong một xã hội phụ hệ và trọng nam, từ lâu, nam giới Việt Nam được mặc định như quy chuẩn của mọi vấn đề, kể cả đồng tính. Xu hướng tính dục và bản dạng giới không tuân theo những quy định thông thường của xã hội thường được coi là đồng tính nam (những người đồng tính nữ, hầu như không được nhắc đến). Cũng chính vì thiên kiến đó, nam giới ăn mặc và có những cử chỉ giống phụ nữ bị coi là điều cấm kị. Họ trở thành một bộ phận đặc biệt chính vì sự khác biệt.

Ở nông thôn, những người đàn ông ăn vận như phụ nữ chỉ có thể là các thầy phù thủy trong một hệ thống tín ngưỡng bản địa lâu đời (Đạo Mẫu). Họ còn được gọi là “bóng cái” (ngôn ngữ Nam bộ) hay “đồng cô” (ngôn ngữ Bắc bộ). Nhiều quan điểm cho rằng “vì sự mập mờ về tính dục nên họ được xem là có khả năng nói chuyện với những thế lực tâm linh” [130, 35]. Tuy vậy, họ vẫn ít lộ diện và chỉ giới hạn vai trò của mình trong các nghi lễ tôn giáo mà thôi.

Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã nhắc đến một trường hợp khá thú vị về sự đảo trang trong thành viên hoàng tộc nhà Hậu Lê là An Vương Tuân (Lê Tuân), con trưởng của vua Lê Hiến Tông “thích mặc áo đàn bà” [55, 738]. Tuy nhiên, tài liệu này 8 không nói gì thêm về hành trạng cũng như phản ứng cụ thể của đương thời đối với biểu hiện có phần dị thường của vị hoàng tử đó. Khi văn hóa Việt Nam có sự giao lưu và tiếp biến với văn hóa Trung Hoa, hiện tượng đảo trang còn thấy ở những rạp hát của người Hoa ở phía Nam thuộc địa Nam kỳ vào cuối thế kỷ XIX. Một quân y người Pháp là X.

Jacobus đã ghi chép lại những điều mắt thấy khi ông có dịp tới đây trong thời gian này: “Cái cách họ (những nam diễn viên) bắt chước điệu bộ, dáng đi và giọng nói của những người phụ nữ Trung Quốc thật hoàn hảo, thật khó để phân biệt họ với phụ nữ. Họ thậm chí còn làm được hơn cả vậy, họ đóng vai phụ nữ theo các cách khác.Tuy nhiên, tôi không thể im lặng trước một dạng lập dị của trò chơi tình ái. Những nam diễn viên đóng những vai nữ, mặc các trang phục của họ đến nhà thổ và vào vai một trinh nữ thùy mị, sợ mất đi trinh tiết của mình - điêu luyện đến mức khiến người ta phải thán phục. Tạm thời bỏ qua phản ứng bất bình về điều trái mắt đó, không thể không công nhận có một hiện thực tính dục dị biệt đã âm ỉ chảy ngầm trong lòng xã hội Việt Nam suốt một thời kỳ dài, mặc các thành kiến và sự cấm cản.

Giới thuyết về một số khái niệm được sử dụng trong luận án - Đồng tính (Homosexuality): Theo từ điển Tiếng Việt do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam thuộc Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1988, “đồng tính (tính từ): chỉ có ham muốn nhục dục một cách trái tự nhiên với những người cùng giới tính” [135, 536]. Định nghĩa này quy kết đồng tính là “trái tự nhiên” trong khi đối chiếu với từ gốc trong tiếng Anh (homosexuality) thì đây là cụm từ dùng để phân biệt giữa người có thiên hướng tình dục đồng tính luyến ái với người dị tính luyến ái và người lưỡng tính luyến ái. Không có phần nghĩa nào xem đồng tính là “trái tự nhiên” hay không đúng với thuần phong mỹ tục. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, việc các tác giả của từ điển Tiếng Việt năm 1988 dịch cụm từ này là chưa chuẩn xác và rõ ràng cho đến thời điểm hiện nay, cách quan niệm như thế cũng không còn phù hợp với tư duy cởi mở của xã hội.

9 Chúng tôi tán đồng với cách định nghĩa của Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam về thuật ngữ “đồng tính”, theo đó: “đồng tính (còn gọi đồng dâm) là quan hệ luyến ái, tình dục giữa những người cùng giới tính, đều có bộ phận sinh dục phát triển bình thường” [134, 876]. Ở đây, cần lưu ý là đồng tính được biểu hiện ở hai cấp độ: tình cảm lãng mạn và hành vi tình dục. Những người bị coi là đồng tính hoặc có biểu hiện đồng tính không nhất thiết phải có quan hệ tình dục với người cùng giới tính với mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Diện mạo văn xuôi về đề tài đồng tính tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX là một nghiên cứu chuyên sâu khám phá sự phát triển và biến đổi của văn xuôi Việt Nam xoay quanh chủ đề đồng tính từ những năm đầu thế kỷ XX. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về cách các tác giả Việt Nam tiếp cận và thể hiện đề tài này qua các giai đoạn lịch sử, mà còn phân tích sự tác động của văn hóa, xã hội và chính trị lên các tác phẩm văn học. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến văn học Việt Nam hiện đại và các vấn đề xã hội liên quan.

Để mở rộng hiểu biết về các thể loại văn học Việt Nam, bạn có thể tham khảo Luận án các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại trên cơ sở cứ liệu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945, nghiên cứu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển của truyện ngắn trong giai đoạn lịch sử quan trọng. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ văn học vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay cũng là một tài liệu hữu ích để khám phá sự thay đổi và đặc điểm của văn học Việt Nam trong nửa sau thế kỷ XX. Cả hai tài liệu này đều bổ sung kiến thức sâu rộng về văn học Việt Nam, giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về chủ đề này.