Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài Diện mạo mảng văn xuôi viết về đề tài đồng tính ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay do nghiên cứu sinh Lê Thị Thủy thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 62 22 01 21), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Lai Thúy, bảo vệ năm 2019.
Văn bản luận án đặt tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh xã hội và văn học hơn mười năm qua, khi các vấn đề liên quan đến tình dục đồng giới và quyền của cộng đồng LGBT (Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender) dần trở nên quen thuộc tại Việt Nam sau các chuyển biến quốc tế khởi nguồn từ sự kiện Stonewall năm 1969 tại Hoa Kỳ. Trong văn học Việt Nam, mặc dù dấu vết đề tài đồng tính đã manh nha từ văn học dân gian và trung đại, mảng sáng tác này lâu nay vẫn chưa được đánh giá thỏa đáng do rào cản của chế định văn hóa phương Đông và đạo đức phong kiến. Giới nghiên cứu phê bình còn do dự trong việc xác định liệu có tồn tại một "dòng văn học" đồng tính hay không bởi hai nguyên nhân: số lượng tác phẩm còn khiêm tốn so với các đề tài truyền thống (chiến tranh, nông thôn) và hiện tượng thương mại hóa, bị quy vào văn chương thị trường mang tính câu khách dung tục. Bên cạnh đó, sự xâm nhập tự phát của dòng tiểu thuyết Đam mỹ (Damei/Tanbi) bắt nguồn từ Yaoi Nhật Bản trong giới trẻ với đặc trưng nhại và miêu tả sắc dục đòi hỏi giới nghiên cứu phải có công trình học thuật nghiêm cẩn nhằm phân định rõ ranh giới văn học nghệ thuật đích thực và văn hóa đọc đại chúng tầm thường hóa. Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả nhận diện là sự thiếu vắng một công trình bao quát, hệ thống hóa tiến trình lịch sử - văn học của văn xuôi viết về đề tài đồng tính ở Việt Nam trong suốt hơn một thế kỷ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được chia thành hai nhóm nhiệm vụ cụ thể:
- Mục tiêu thực tiễn: Tìm kiếm, thống kê, khảo sát các tư liệu văn xuôi Việt Nam đã công bố từ đầu thế kỷ XX đến năm 2019 có liên quan đến đề tài đồng tính; phác thảo diện mạo, đặc điểm, quy luật vận động của mảng đề tài qua các giai đoạn lịch sử; phân tích tình hình tiếp nhận mảng văn xuôi này trong bối cảnh đương đại.
- Mục tiêu lý luận: Rút ra những nhận định mang tính lý luận về sự vận động của văn học Việt Nam hiện đại; bổ sung và khẳng định nội hàm khái niệm văn học (viết về) đồng tính; kiểm chứng tính khả thi của hướng tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu văn học.
Đối tượng nghiên cứu của công trình là các tác phẩm văn xuôi tự sự hư cấu và phi hư cấu (truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, bút ký, hồi ký, tự truyện) viết về đề tài đồng tính của các tác giả Việt Nam hiện đại đã được xuất bản. Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Khảo sát từ đầu thế kỷ XX (thời điểm mở đầu của văn học Việt Nam hiện đại) đến thời điểm thực hiện luận án (2019), lấy mốc Đổi mới năm 1986 làm ranh giới phân kỳ lịch sử.
- Phạm vi tư liệu: Luận án chọn lối tiếp cận nghiên cứu trường hợp đối với các tác phẩm ra đời trước năm 1986 do tính chất uyển ước và ngụy trang nghệ thuật. Bộ phận văn học đô thị miền Nam (1954–1975), văn học hải ngoại và văn học mạng chỉ được sử dụng làm tư liệu tham khảo đối sánh, không thuộc diện khảo sát chính.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm lại tình hình nghiên cứu, phê bình văn xuôi về đề tài đồng tính theo hai nhóm: các công trình mang tính lược thuật tổng quan và các công trình nghiên cứu trên đối tượng đơn lập.
Ở nhóm công trình lược thuật tổng quan về văn chương đồng tính:
- Tác giả Hoàng Tùng trong bài viết Văn chương đồng tính – từ bóng tối ra ánh sáng (Tạp chí Sông Hương, 2011) đã khái quát tiến trình văn học đồng tính thế giới từ giai đoạn bị kỳ thị, ẩn mình đến khi xuất hiện công khai.
- Tác giả Triệu Thanh Đàm nghiên cứu hiện tượng đồng tính qua các loại hình văn hóa nghệ thuật (điêu khắc, hội họa, điện ảnh, văn học), nêu ra bốn kiểu nhân vật đặc trưng của văn học đồng tính phản ánh các vấn đề xã hội.
- Tác giả Triêu Nhan với bài Vĩ đại như văn học đồng tính (Báo Thể thao và Văn hóa, 2011) điểm tên các tác giả kinh điển thế giới (Marcel Proust, André Gide, Federico García Lorca, Mikhail Kuzmin) dưới góc độ xã hội học.
- Tác giả Nguyễn Như Bình qua bài Đề tài đồng tính trong một số tác phẩm văn học Việt Nam (Tạp chí Khoa học ĐHSP TP.HCM, 2013) khảo sát trường hợp Xuân Diệu và các tác giả sau năm 1999 (Bùi Anh Tấn, Vũ Đình Giang, Nguyễn Đình Tú, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Thạch), đặt câu hỏi về tính xác lập của dòng văn học đồng tính tại Việt Nam.
- Các bài viết mang tính chuyên khảo học thuật sâu sắc gồm có: nghiên cứu của Trần Ngọc Hiếu (Văn học queer ở Việt Nam: hướng đến một dòng văn học thiểu số, Văn học đồng tính ở Việt Nam - từ những hình thức ngụy trang đến các tự thuật thú nhận), vận dụng quan niệm "văn chương thiểu số" của Gilles Deleuze và Félix Guattari để định nghĩa văn học queer như một dải phổ linh hoạt về tình trạng lệch chuẩn giới, đồng thời khái quát hành trình văn học đồng tính Việt Nam là quá trình đi từ "ngụy trang" sang "tự thuật thú nhận"; nghiên cứu của Nguyễn Quốc Vinh (Những nhục thể biến dị và các động thái chuyển vị của dục cảm đồng tính trong văn chương Việt Nam từ và về thời Pháp thuộc, tham luận tại Đại học Harvard / Hiệp hội Á Châu học Hoa Kỳ) tập trung vào các mô thức chuyển vị của cảm quan đồng tính (homoeroticism) trong văn bản giai đoạn 1858–1954.
- Một số bài viết phê bình báo chí và bài nghiên cứu chuyên đề khác của Lê Dục Tú, Thái Phan Vàng Anh, Bùi Việt Thắng, A Khoa, Nguyễn Thành Tâm, Trần Thư, Huyền Minh, Hạnh Ngân, Loan Thanh (phỏng vấn Nguyễn Quang Thiều), Colm Tóibín đã phản ánh góc độ tiếp nhận và phản ứng của đời sống văn nghệ trước mảng văn học này.
Ở nhóm công trình khảo sát tác giả, tác phẩm đơn lập:
- Về trường hợp Xuân Diệu: bài viết của Kim Nhật trên báo Đời (Sài Gòn, 1970); chuyên luận Bút pháp của ham muốn (2009) của Đỗ Lai Thúy với bài viết Đáp lời con quái Sphinx hay ngọn nguồn sáng tạo thơ Xuân Diệu, sử dụng phân tâm học Sigmund Freud và Carl Gustav Jung để giải mã ngôn ngữ vô thức, các hình thức chuyển vị và bản chất lưỡng diện trong sáng tác của nhà thơ.
- Về trường hợp Bùi Anh Tấn: tham luận của Nguyễn Quốc Vinh đọc tiểu thuyết Bùi Anh Tấn theo chủ nghĩa Lịch sử mới; các luận văn thạc sĩ của Phan Thị Tình (2011), Nguyễn Thị Bích Hạnh (2012), Lê Thị Nguyên Quy (2014), Nguyễn Đăng Vinh (2016), Hồ Hoàng Hạnh (2016); nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Bí mật hậu cung của Phạm Văn Hùng (2013) và công trình về tiểu thuyết thân xác của Bùi Việt Thắng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ dừng lại ở bài báo, tham luận hội thảo hoặc khảo sát từng trường hợp tác giả đơn lẻ (chủ yếu là Xuân Diệu hoặc Bùi Anh Tấn), tiếp cận bằng xã hội học thuần túy. Luận án của Lê Thị Thủy là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu mảng văn xuôi viết về đề tài đồng tính ở Việt Nam một cách hệ thống trong trục thời gian lịch đại kéo dài hơn một thế kỷ (từ đầu thế kỷ XX đến năm 2019), kết hợp khảo sát diện mạo toàn cảnh (diện) và các tác giả tiêu biểu (điểm).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án vận dụng ba hệ thống lý thuyết phương Tây hiện đại để xây dựng khung phân tích:
- Thuyết Lệch pha (Queer theory) và cuộc tranh luận giữa Bản chất luận (Essentialism) và Kiến tạo luận (Constructionism):
- Bản chất luận (gắn với Karl Heinrich Ulrichs và các nghiên cứu di truyền học sinh học) xem đồng tính là thiên hướng tự nhiên, bẩm sinh.
- Kiến tạo luận (đại diện bởi Michel Foucault, David M. Halperin, Judith Butler, John D’Emilio) xem tính dục là sản phẩm của các thiết chế văn hóa, chính trị, quan hệ quyền lực và hệ thống diễn ngôn trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể. John D’Emilio chứng minh mối liên hệ giữa sự xuất hiện của đặc tính đồng tính với chủ nghĩa tư bản, quá trình lao động tự do, sự biến động của gia đình hạt nhân và môi trường tập trung đơn giới (trại lính, nhà máy, nhà tù). Annamarie Jagose (Queer theory - An introduction) và Teresa de Lauretis xác lập Queer theory như một mô hình lý thuyết bao trùm, giải cấu trúc các chuẩn mực giới tính nhị nguyên.
- Phê bình nữ quyền đồng tính luyến ái (Lesbian Feminist Criticism):
- Bắt nguồn từ phê bình nữ quyền da đen và lý thuyết của Simone de Beauvoir ("Người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ").
- Kế thừa và phản biện phân tâm học cấu trúc của Jacques Lacan để khẳng định quyền tự chủ về thân thể và tiếng nói của nữ giới.
- Tiếp thu định nghĩa của Lillian Faderman xem tình yêu đồng tính nữ là mối quan hệ tình cảm mãnh liệt, sẻ chia đời sống giữa hai người nữ mà không nhất thiết phải quy giản vào hành vi tình dục.
- Phân tâm học cổ điển:
- Các luận điểm của Sigmund Freud trong Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục (1905) và Nhập môn phân tâm học, bao gồm khái niệm nghịch đảo giới tính (inversion), năng lượng dục tính (libido), mặc cảm Ơ-đíp (Oedipus), tính tự si (narcissism), quan niệm âm đạo có răng (vagina dentata) và hiện tượng đảo trang phục (transvestism/cross-dresser).
| Khái niệm |
Định nghĩa / Giới thuyết sử dụng trong luận án |
| Đồng tính (Homosexuality) |
Tiếp thu định nghĩa của Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam: quan hệ luyến ái, tình dục giữa những người cùng giới tính, có bộ phận sinh dục phát triển bình thường. Luận án đề xuất cách hiểu mở: chỉ các biểu hiện về sự phân vân, mơ hồ hoặc lệch chuẩn giới qua phục trang, quan hệ tình cảm hoặc hành vi tình dục. |
| LGBT / LGBTQI |
Từ viết tắt chỉ cộng đồng người đồng tính nữ (Lesbian), đồng tính nam (Gay), song tính (Bisexual), chuyển giới (Transgender), bổ sung thêm liên giới tính (Intersexuality) và chưa xác định giới tính (Questioning). |
| Queer / Văn học queer |
Thuật ngữ chỉ sự lệch chuẩn so với các quy chuẩn giới tính nhị nguyên. Văn học queer được hiểu là dải phổ mô tả mọi biểu hiện mơ hồ, lệch chuẩn về giới, thân thể và tính dục (hoán vị giới, hoán tính, đảo trang, thiến hoạn, xúc cảm đồng giới). |
| Cảm quan đồng tính (Homoeroticism) |
Khái niệm chỉ các trạng thái tâm lý, xúc cảm, dục cảm đồng giới ẩn tàng, uyển ước mà không bộc lộ trực tiếp qua hành vi giao hoan thể xác. |
| Kỳ thị đồng tính (Homophobia) |
Thuật ngữ do George Weinberg đề xuất giữa thập niên 1960, chỉ nỗi sợ hãi, ác cảm hoặc định kiến thù địch đối với người đồng tính và tình trạng đồng tính. |
Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Luận án xác lập hai nhóm phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp chính: Phương pháp hệ thống (định vị mảng văn xuôi đồng tính trong dòng chảy văn học dân tộc); Phương pháp nghiên cứu liên ngành (kết hợp nghiên cứu văn học với Đông phương học, lịch sử, văn hóa học, xã hội học, phân tâm học); Phương pháp so sánh (đối sánh văn học trước và sau Đổi mới 1986; so sánh văn xuôi Việt Nam với văn học thế giới).
- Nhóm phương pháp bổ trợ và thao tác: Phương pháp loại hình học, phương pháp tiếp cận nhân học văn hóa, lý thuyết tiếp nhận văn học; các thao tác thu thập, thống kê thư mục, khảo sát văn bản, phân tích và tổng hợp.
- Nguồn tư liệu: Toàn bộ các tác phẩm văn xuôi tiếng Việt (tiểu thuyết, truyện ngắn, hồi ký, tự truyện) từ đầu thế kỷ XX đến năm 2019 có đề cập đến chủ đề đồng tính được xuất bản chính thức, cùng các văn bản dịch thuật, công trình lý luận phê bình trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
TIẾN TRÌNH VĂN XUÔI ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH VIỆT NAM (1900 - 2019)
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận và lịch sử của đề tài. Về phương diện lịch sử - xã hội, tác giả phục dựng sự hiện diện của tình dục đồng giới qua các thời kỳ nhân loại: từ thần thoại Hy Lạp (mối quan hệ giữa thần Zeus và Ganymede, Poseidon và Pelops, Apollo và Hyacinth/Cyparissus, tình bạn chiến binh Achille và Patrocle), thần thoại Ai Cập (Seth và Horus), sử thi Lưỡng Hà (Gilgamesh), tôn giáo Nhật Bản thời Heian (tông phái Shingon), văn hóa Trung Đông và các tuyến đường thương mại Trung Á. Tại phương Tây, văn học đồng tính trải dài qua tác phẩm của các tác giả như Sheridan Le Fanu (Carmilla), Radclyffe Hall (The Well of Loneliness), Oscar Wilde (The Picture of Dorian Gray), Thomas Mann (Death in Venice), Patricia Highsmith (The Price of Salt). Tại phương Đông, văn học Trung Quốc ghi nhận bề dày truyền thống nam sắc qua nghiên cứu của Thi Diệp và mô thức tình bạn "tri âm tri kỷ" trong Thủy hử của Thi Nại Am; văn hóa Nhật Bản thời Edo ghi dấu các tác phẩm của Ihara Saikaku (Nam sắc đại giám).
Tại Việt Nam, văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước gắn liền tín ngưỡng phồn thực đề cao khả năng sinh sản nhằm duy trì nòi giống, do đó không ủng hộ quan hệ cùng giới. Dù vậy, các hiện tượng lệch chuẩn giới vẫn hiện diện dưới hình thức đảo trang trong văn hóa tâm linh tín ngưỡng Đạo Mẫu (các hiện tượng "đồng cô", "bóng cái"), ghi chép lịch sử trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên về hoàng tử An Vương Lê Tuân ("thích mặc áo đàn bà"), ghi chép của quân y Pháp X. Jacobus cuối thế kỷ XIX về gánh hát người Hoa ở Nam Kỳ, hoặc các câu chuyện mang màu sắc dị biến trong Sơn cư tạp thuật của Đan Sơn và Lan Trì kiến văn lục của Vũ Trinh. Luận án xác định chặng đường của văn học đồng tính Việt Nam là hành trình đi từ "ngụy trang" trong quá khứ sang các "tự thuật thú nhận" ở thời kỳ đương đại.
Chương 2: Văn xuôi Việt Nam viết về đồng tính từ đầu thế kỷ XX đến Đổi mới
Chương 2 phân tích diện mạo văn xuôi giai đoạn trước năm 1986 qua hai hướng tiếp cận chính:
- Đồng tính trong văn xuôi từ góc nhìn sinh thái hành vi: Khảo sát các tác phẩm phản ánh trực quan hành vi đồng tính dưới góc nhìn sai lệch xã hội hoặc tệ nạn xã hội. Xã hội thời kỳ đầu thế kỷ XX xếp đồng tính vào nhóm hành vi bất bình thường. Các văn bản được phân tích gồm có phóng sự Hà Nội lầm than (1937) của Trọng Lang, tiểu thuyết Hầu Thánh (1942) của Lộng Chương, truyện ngắn Thủ đoạn (1931) của Vũ Trọng Phụng và tiểu thuyết Khung rêu (1969) của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Các tác phẩm này phản ánh khía cạnh sinh thái hành vi của các đối tượng đồng tính cơ hội, người bán dâm nam hoặc các nhân vật đảo trang trong không gian lễ nghi tôn giáo.
- Cảm quan đồng tính dưới khía cạnh tâm lý và trường hợp Xuân Diệu: Tác giả khảo sát các biểu hiện gián tiếp, các "chuyển vị" của dục cảm đồng giới trong các tác phẩm văn xuôi hư cấu như Người bán ngọc (1931) của Lê Hoằng Mưu, Hồn bướm mơ tiên (1932) của Khái Hưng, Sống mòn (1944) của Nam Cao, tập hồi ký Đôi nét về Hàn Mặc Tử (1962) của Quách Tấn, tác phẩm Bố con là đàn bà của Vũ Bão và truyện ngắn của Trần Vũ. Trọng tâm của chương là việc khảo sát văn xuôi của Xuân Diệu qua hai tập tản văn nghệ thuật Phấn thông vàng (1939) và Trường ca (1944), đối sánh với các bài thơ mang cảm thức tình trai (Tình trai, Chó mèo hoang, Giã từ tuổi nhỏ, Mời yêu, Phơi trải, Giã từ thân thể). Luận án làm rõ cách thức Xuân Diệu dùng "ngôn ngữ mặt nạ", ẩn dụ và ngôn ngữ vô thức để che giấu những khao khát tính dục đồng giới trước định kiến kiểm duyệt của thời đại.
Chương 3: Văn xuôi đề tài đồng tính Việt Nam từ Đổi mới đến nay
Chương 3 khảo sát sự biến chuyển của văn xuôi sau mốc Đổi mới năm 1986:
- Bối cảnh xã hội và sự xuất hiện tiếng nói thiểu số: Sau Đổi mới, tiến trình dân chủ hóa đời sống văn học và sự phát triển của kinh tế thị trường tạo điều kiện cho các đề tài vốn bị coi là cấm kỵ được đưa ra ánh sáng. Văn học chuyển trọng tâm từ phản ánh cộng đồng sang khám phá số phận cá nhân, tính dục và thân xác.
- Đặc điểm cơ bản của văn xuôi đồng tính sau 1986: Sự chuyển dịch từ ngụy trang sang công khai hóa bản dạng tính dục; sự bùng nổ của thể loại tự truyện, tự thuật thú nhận (tiêu biểu là cuốn tự truyện đồng tính đầu tiên Bóng của Nguyễn Văn Dũng); sự tham gia của các cây bút trẻ như Vũ Đình Giang, Nguyễn Đình Tú (với tiểu thuyết Nháp), Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Thạch.
- Trường hợp điển hình Bùi Anh Tấn: Tác giả dành phần lớn dung lượng chương để khảo sát Bùi Anh Tấn – nhà văn viết nhiều nhất và có hệ thống nhất về giới LGBT tại Việt Nam. Các tiểu thuyết được phân tích chuyên sâu gồm: Một thế giới không có đàn bà (tác phẩm mở đầu cho dòng tiểu thuyết viết về đồng tính nam kết hợp yếu tố trinh thám), Les - vòng tay không đàn ông (tiểu thuyết viết về đề tài đồng tính nữ), Phương pháp của A. Kinsey và tiểu thuyết lịch sử Bí mật hậu cung (kết hợp đề tài cung đình với chủ đề đồng tính). Luận án phân tích bi kịch tinh thần, sự giằng xé bản sắc và sự xâm nhập ngượng ngịu của các chuẩn mực dị tính quy phạm trong hệ thống nhân vật của Bùi Anh Tấn.
Chương 4: Tiếp nhận văn xuôi đề tài đồng tính Việt Nam trong bối cảnh đương đại
Chương 4 nghiên cứu các phương diện xã hội học và văn hóa học của việc tiếp nhận văn xuôi đồng tính:
- Văn xuôi đồng tính với tâm lý kỳ thị đồng tính (Homophobia): Phân tích những định kiến xã hội, cái nhìn kỳ thị xem đồng tính là bệnh hoạn, đua đòi hoặc suy đồi đạo đức; chỉ ra cách độc giả và giới phê bình tiếp nhận các tác phẩm tự truyện, tiểu thuyết đồng tính qua lăng kính nghi ngại.
- Mối quan hệ với thị trường và các hoạt động văn hóa: Phân định ranh giới giữa văn học nghệ thuật nghiêm túc với các sản phẩm "văn học thị trường", "văn học đại chúng"; đánh giá ảnh hưởng của các trào lưu Đam mỹ, Yaoi đối với thị hiếu giới trẻ; khảo sát mối liên hệ liên văn bản giữa văn xuôi đồng tính với sân khấu, điện ảnh và các hoạt động truyền thông văn hóa.
- Đọc, phê bình và giảng dạy trong không gian nhà trường: Nhận diện văn chương đồng tính như một "vùng cấm" trong chương trình giáo dục phổ thông và đại học tại Việt Nam; phân tích sự ngập ngừng của giáo giới trong việc tiếp cận các tác giả có cảm quan đồng tính (như Xuân Diệu); đối sánh với kinh nghiệm giảng dạy lý thuyết queer và văn học đồng tính tại các trường đại học trên thế giới nhằm đề xuất khả năng đưa tác phẩm vào môi trường học thuật.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Bước đầu nhận diện, định danh và xác lập tiến trình lịch sử của một xu thế văn xuôi nhạy cảm trong văn học Việt Nam: tồn tại dưới dạng thức yếu tố, ẩn dụ, chuyển vị ở giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến trước năm 1986 và hình thành rõ nét thành một mảng đề tài công khai từ cuối thập niên 1990 đến nay.
- Vận dụng phối hợp các khung lý thuyết hiện đại (thuyết Lệch pha, phê bình nữ quyền đồng tính luyến ái, phân tâm học) để lý giải quá trình biến chuyển trong tư duy nghệ thuật và tâm lý học sáng tạo của nhà văn Việt Nam khi tiếp cận những vùng hiện thực ngoài chuẩn mực dị tính.
- Góp phần hoàn thiện nội hàm khái niệm "văn học (viết về) đồng tính" và "văn học queer" theo hướng dải phổ linh hoạt, thoát khỏi các khuôn định xơ cứng mang tính nhị nguyên.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Sử dụng cách tiếp cận văn học - sử để gạn lọc, khôi phục và xâu chuỗi các cứ liệu văn học giai đoạn tiền Đổi mới vốn bị lãng quên hoặc né tránh (các sáng tác của Lê Hoằng Mưu, Khái Hưng, Trọng Lang, Lộng Chương, Nam Cao, Xuân Diệu, Quách Tấn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Vũ Bão).
- Dựng nên diện mạo mảng văn xuôi viết về đồng tính ở cả hai bình diện: diện rộng (khảo sát thể loại, các nhóm tác giả) và điểm sâu (các tác giả trung tâm như Xuân Diệu giai đoạn trước 1986 và Bùi Anh Tấn giai đoạn sau 1986).
- Đưa ra những cứ liệu khoa học có giá trị tham khảo cho công tác quản lý văn hóa, nghiên cứu xã hội học, phân tâm học và định hướng giáo dục thẩm mỹ trước làn sóng văn hóa phẩm thương mại hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ trên các giới thuyết phạm vi mà tác giả trình bày trong phần Mở đầu, công trình có một số giới hạn:
- Về phạm vi đối tượng: Luận án chỉ tập trung vào bộ phận văn xuôi tự sự (hư cấu và phi hư cấu) đã xuất bản chính thức; chưa thể bao quát toàn diện mảng văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954–1975, văn học hải ngoại và dòng văn học mạng (chỉ dừng ở mức tham khảo bổ trợ).
- Về giai đoạn lịch sử trước 1986: Do hoàn cảnh xã hội và sự khan hiếm của các văn bản trực diện, việc khảo sát giai đoạn này chủ yếu dựa trên phương thức nghiên cứu trường hợp đơn lẻ thông qua phân tích cảm quan đồng tính và ngôn ngữ ngụy trang, chưa thể đạt tới quy mô khảo sát diện rộng như giai đoạn sau 1986.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sang thể loại thơ và kịch; khảo sát chuyên sâu mảng văn học mạng và sáng tác của cộng đồng người Việt ở hải ngoại; nghiên cứu so sánh liên văn hóa về văn học queer trong khu vực Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và So sánh văn học: Cung cấp khung phương pháp luận liên ngành (Queer theory, phân tâm học, nữ quyền luận) cùng hệ thống ngữ liệu văn xuôi về đề tài đồng tính từ đầu thế kỷ XX đến nay; phần khảo sát chuyên sâu về văn xuôi Xuân Diệu (Chương 2) và Bùi Anh Tấn (Chương 3) là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các đề tài nghiên cứu tác gia.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa học, xã hội học giới (Gender Studies): Hệ thống hóa các dữ liệu lịch sử về sự biến chuyển nhận thức xã hội đối với người đồng tính tại Việt Nam qua lăng kính văn học; phần phân tích tiếp nhận và tâm lý kỳ thị (Chương 4) cung cấp cứ liệu thực chứng cho xã hội học tiếp nhận.
- Cơ quan quản lý văn hóa và nhà biên soạn chương trình giáo dục: Tham khảo phần đối sánh giữa văn học nghệ thuật chính thống với tiểu thuyết Đam mỹ/Yaoi và các khuyến nghị về việc đọc, giải mã văn học queer trong môi trường nhà trường nhằm xây dựng chính sách văn hóa và giáo dục cởi mở, khoa học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án chọn mốc thời gian bắt đầu và kết thúc khảo sát là giai đoạn nào?
Luận án bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XX – thời điểm mở đầu của văn học Việt Nam hiện đại – và kết thúc vào năm 2019 (thời điểm hoàn thành luận án). Mốc Đổi mới năm 1986 được sử dụng làm thời điểm phân chia lịch sử mang tính tương đối giữa hai giai đoạn trước và sau khi văn xuôi đồng tính công khai hóa đề tài.
2. Hai cơ sở phương pháp luận chủ yếu được tác giả luận án sử dụng là gì?
Tác giả xác định hai lý thuyết nền tảng làm cơ sở phương pháp luận chủ yếu là Thuyết Lệch pha (Queer theory) và Nữ quyền đồng tính luận (Lesbian Feminist Criticism), kết hợp với Phân tâm học cổ điển của Sigmund Freud và Carl Gustav Jung.
3. Khái niệm "văn học queer" trong luận án được tiếp thu từ tác giả nào và có nội hàm ra sao?
Khái niệm này được tiếp thu từ đề xuất của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Hiếu (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội). Văn học queer được hiểu theo nghĩa rộng và "lỏng": không chỉ giới hạn ở các tác giả LGBT hay nhân vật đồng tính lộ diện, mà là một dải phổ bao quát tất cả các biểu hiện về tình trạng mơ hồ và xu hướng lệch chuẩn giới, thân thể, tính dục (bao gồm tình cảm đồng giới, hoán tính, giả trang, thiến hoạn hoặc các xúc cảm tâm lý đồng giới).
4. Hai tác giả nào được lựa chọn làm trường hợp nghiên cứu trọng tâm (điểm) cho hai giai đoạn trước và sau Đổi mới 1986?
- Giai đoạn trước 1986: Tác giả Xuân Diệu, khảo sát cảm quan đồng tính và ngôn ngữ ngụy trang qua các văn phẩm văn xuôi (Phấn thông vàng, Trường ca) và thơ ca.
- Giai đoạn sau 1986: Nhà văn Bùi Anh Tấn – tác giả được luận án định vị là người viết sâu nhất và nhiều nhất về đề tài LGBT ở Việt Nam qua hệ thống tiểu thuyết (Một thế giới không có đàn bà, Les - vòng tay không đàn ông, Phương pháp của A. Kinsey, Bí mật hậu cung).
5. Tác phẩm tự truyện nào được luận án ghi nhận là cuốn tự truyện đồng tính đầu tiên ở Việt Nam?
Đó là cuốn tự truyện mang tên Bóng của tác giả Nguyễn Văn Dũng, ra đời trong giai đoạn văn học sau Đổi mới, tiêu biểu cho xu hướng chuyển dịch sang các "tự thuật thú nhận" của văn chương thiểu số.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Thủy là công trình chuyên khảo đầu tiên tái hiện một cách hệ thống tiến trình lịch sử và diện mạo mảng văn xuôi viết về đề tài đồng tính tại Việt Nam xuyên suốt hơn một thế kỷ. Thông qua việc vận dụng các lý thuyết hiện đại như thuyết Lệch pha, phê bình nữ quyền đồng tính luận và phân tâm học, tác giả đã làm sáng tỏ quy luật vận động của bộ phận văn học này từ hình thức ngụy trang, chuyển vị cảm quan giai đoạn trước 1986 đến giai đoạn công khai hóa bản dạng và tự thuật sau Đổi mới. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp thiết thực vào việc bổ khuyết các khoảng trống trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật giá trị cho các nghiên cứu liên ngành về văn hóa, giới và xã hội.