Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan lý thuyết về đề tài đồng tính 1. Đồng tính luyến ái dưới góc nhìn lịch sử - xã hội 1. Hiện tượng đồng tính luyến ái trên thế giới Trong công trình Dẫn luận về tính dục (Sexuality: a very short introduction), tác giả Veronique Mottier đã dẫn câu chuyện của nhà hiền triết cổ đại Platon về nguồn gốc con người để bắt đầu những diễn giải của bà về hoạt động tính dục của nhân loại trong thời hồng hoang, theo đó loài người ban đầu vốn được phân chia thành ba giới tính: nhóm thứ nhất có hai bộ phận sinh dục nam, nhóm thứ hai có hai bộ phận sinh dục nữ và nhóm thứ ba là loài lưỡng tính, có một bộ phận sinh dục nam và một bộ phận sinh dục nữ.
Vì làm mếch lòng các vị thần, chúa tể Zeus đã tách đôi các nửa của mỗi nhóm sinh vật ấy như một sự trừng phạt khiến cho họ suốt đời phải khổ sở mỏi mòn trong cuộc kiếm tìm lại nửa kia của mình. Đó là đầu mối của những rắc rối về sau khi một người nam (hoặc nữ) không hứng thú với người có bộ phận sinh dục khác mình mà lại quan tâm và theo đuổi những sinh vật cùng giới với anh ta (hoặc cô ta). Lịch sử nhân loại cũng từng ghi nhận những dị biệt về tính dục cách đây hàng ngàn năm. Với cuốn Quan hệ tình ái trong các cộng đồng, các tôn giáo, các nền văn hóa, học giả người Ba Lan Zbigniewlew Starowicz đã chỉ ra rằng: con người ngay từ buổi ấu thơ của mình đã phải đối diện với những vấn đề nan giải thuộc về thiên hướng tình dục và bản dạng giới.
Starowicz khẳng định đồng tính luyến ái là “hiện tượng tồn tại trong hầu hết các phong tục tình dục thế giới. Có tới 2/3 nền văn hóa sơ khai tán thành các quan hệ và hành vi tình dục này” [84,144]. Thậm chí, ngay tại một quốc gia phương Đông vốn khắt khe với những động thái tình dục dị biệt là Nhật Bản thì cách đây hơn một nghìn năm, những thành viên của giáo phái Shingon (một tông phái Phật giáo) đã coi sự luyến ái với các chú tiểu là 6 một phần không thể thiếu của nghi thức truyền đạo. Lịch sử thi ca ở xứ sở Trung Đông huyền bí ngay từ thời kỳ trung cổ đã xuất hiện những vần thơ của các nhà thơ Hồi giáo về những thiếu niên trẻ tuổi chuyên hầu rượu và chia sẻ chuyện tình dục trong một tinh thần tụng ca hoan lạc.
Trong khi đó, tại các nước vùng Trung Á, trên con đường tơ lụa nổi tiếng cũng đã sản sinh ra một nền văn hóa đồng tính đặc biệt, tương tự như các quốc gia Trung đông láng giềng. Những chứng cớ mỹ thuật và văn học về đồng tính luyến ái chủ yếu được phát hiện ngay từ thời cổ đại ở Hy Lạp, nơi dung dưỡng và duy trì các mối quan hệ đồng tính qua không gian và thời gian dưới sự bảo hộ của luật lệ cộng đồng. Theo đó mối quan hệ thân mật giữa một người đàn ông đã trưởng thành (thường lớn tuổi) và một thiếu niên có ý nghĩa giáo dục, truyền đạt kinh nghiệm hơn là tìm kiếm và thỏa mãn lạc thú thân xác. Có ý kiến cho rằng, bản thân việc này đồng thời còn là một phương cách hữu hiệu để kiểm soát tốc độ gia tăng dân số (theo chiều hướng hạn chế) của bộ phận dân cư.
Trong thời đại “hoàng kim” của tình dục đồng giới ở xã hội Hi-La cổ đại, nghi thức tôn giáo Hy Lạp đã vinh danh đồng tính để xác nhận sự trưởng thành của trẻ vị thành niên. Trong khi đó, tại một số quốc gia ở Châu Mỹ, tiêu biểu như trong các cộng đồng thổ dân Bắc Mỹ, người đồng tính được xem là người có hai linh hồn. Họ nghiễm nhiên nhận được sự công nhận và kính trọng của toàn thể bộ lạc. Người dân tin rằng, những thầy pháp này là một kiểu thầy pháp đặc biệt vì họ luôn có nhiều quyền năng hơn các thầy pháp thông thường.
Điều đó có vẻ rất giống với một số quốc gia vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Nhìn lại lịch sử phát triển của hiện tượng, dưới góc độ y học, có giai đoạn người ta từng cho rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh và những người đồng tính bị cộng đồng kỳ thị như những kẻ bệnh hoạn đáng khinh. Mãi đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự tiến bộ của ngành khoa học tâm lý, các nhà khoa học đã đủ cơ sở để đi đến kết luận loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh mục bệnh, đồng thời bước đầu đưa ra những minh chứng nghiêm túc, cẩn trọng về bản chất tự nhiên của luyến ái đồng tính ở các loài sinh vật. Hiện tượng đồng tính luyến ái tại Việt Nam Việt Nam, cũng giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, thứ tình dục khác thường này hẳn đã có mặt từ sớm.
Tuy nhiên, xuất phát từ một nước nông nghiệp với tín ngưỡng phồn thực nguyên thủy sâu đậm, người Việt cổ không tán thành những hành vi tình dục đồng tính (vì nó không thúc đẩy khả năng sinh sản và sự phồn thịnh của giống nòi - yếu tố được coi là quan trọng bậc nhất của sản xuất nông nghiệp). Đó là lý do vì sao trong khi hệ thống folklore ở các nước phương Tây (thuộc nền văn hóa du mục) rất phong phú những câu chuyện kể về mối tình đồng tính giữa các vị thần thì thần thoại Việt Nam lại hoàn toàn xa lạ với đề tài này.Tuân theo quy luật Âm - Dương hoán chuyển của tự nhiên, người Việt từ xa xưa đã nhận thức rất rõ về đầu mối duy trì sự tồn tại của muôn loài là việc kết hợp của cặp Đực - Cái. Mọi sự không theo quy luật chung đó đều bị xem là dị biệt và không được khuyến khích. Tuy vậy, những trường hợp thuộc về chuyển giới tính (transgendering) ở cấp độ y phục (đảo trang - transvestism) không phải hiếm gặp trong văn hóa Việt Nam.
Trưởng thành trong một xã hội phụ hệ và trọng nam, từ lâu, nam giới Việt Nam được mặc định như quy chuẩn của mọi vấn đề, kể cả đồng tính. Xu hướng tính dục và bản dạng giới không tuân theo những quy định thông thường của xã hội thường được coi là đồng tính nam (những người đồng tính nữ, hầu như không được nhắc đến). Cũng chính vì thiên kiến đó, nam giới ăn mặc và có những cử chỉ giống phụ nữ bị coi là điều cấm kị. Họ trở thành một bộ phận đặc biệt chính vì sự khác biệt.
Ở nông thôn, những người đàn ông ăn vận như phụ nữ chỉ có thể là các thầy phù thủy trong một hệ thống tín ngưỡng bản địa lâu đời (Đạo Mẫu). Họ còn được gọi là “bóng cái” (ngôn ngữ Nam bộ) hay “đồng cô” (ngôn ngữ Bắc bộ). Nhiều quan điểm cho rằng “vì sự mập mờ về tính dục nên họ được xem là có khả năng nói chuyện với những thế lực tâm linh” [130, 35]. Tuy vậy, họ vẫn ít lộ diện và chỉ giới hạn vai trò của mình trong các nghi lễ tôn giáo mà thôi.
Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã nhắc đến một trường hợp khá thú vị về sự đảo trang trong thành viên hoàng tộc nhà Hậu Lê là An Vương Tuân (Lê Tuân), con trưởng của vua Lê Hiến Tông “thích mặc áo đàn bà” [55, 738]. Tuy nhiên, tài liệu này 8 không nói gì thêm về hành trạng cũng như phản ứng cụ thể của đương thời đối với biểu hiện có phần dị thường của vị hoàng tử đó. Khi văn hóa Việt Nam có sự giao lưu và tiếp biến với văn hóa Trung Hoa, hiện tượng đảo trang còn thấy ở những rạp hát của người Hoa ở phía Nam thuộc địa Nam kỳ vào cuối thế kỷ XIX. Một quân y người Pháp là X.
Jacobus đã ghi chép lại những điều mắt thấy khi ông có dịp tới đây trong thời gian này: “Cái cách họ (những nam diễn viên) bắt chước điệu bộ, dáng đi và giọng nói của những người phụ nữ Trung Quốc thật hoàn hảo, thật khó để phân biệt họ với phụ nữ. Họ thậm chí còn làm được hơn cả vậy, họ đóng vai phụ nữ theo các cách khác.Tuy nhiên, tôi không thể im lặng trước một dạng lập dị của trò chơi tình ái. Những nam diễn viên đóng những vai nữ, mặc các trang phục của họ đến nhà thổ và vào vai một trinh nữ thùy mị, sợ mất đi trinh tiết của mình - điêu luyện đến mức khiến người ta phải thán phục. Tạm thời bỏ qua phản ứng bất bình về điều trái mắt đó, không thể không công nhận có một hiện thực tính dục dị biệt đã âm ỉ chảy ngầm trong lòng xã hội Việt Nam suốt một thời kỳ dài, mặc các thành kiến và sự cấm cản.
Giới thuyết về một số khái niệm được sử dụng trong luận án - Đồng tính (Homosexuality): Theo từ điển Tiếng Việt do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam thuộc Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1988, “đồng tính (tính từ): chỉ có ham muốn nhục dục một cách trái tự nhiên với những người cùng giới tính” [135, 536]. Định nghĩa này quy kết đồng tính là “trái tự nhiên” trong khi đối chiếu với từ gốc trong tiếng Anh (homosexuality) thì đây là cụm từ dùng để phân biệt giữa người có thiên hướng tình dục đồng tính luyến ái với người dị tính luyến ái và người lưỡng tính luyến ái. Không có phần nghĩa nào xem đồng tính là “trái tự nhiên” hay không đúng với thuần phong mỹ tục. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, việc các tác giả của từ điển Tiếng Việt năm 1988 dịch cụm từ này là chưa chuẩn xác và rõ ràng cho đến thời điểm hiện nay, cách quan niệm như thế cũng không còn phù hợp với tư duy cởi mở của xã hội.
9 Chúng tôi tán đồng với cách định nghĩa của Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam về thuật ngữ “đồng tính”, theo đó: “đồng tính (còn gọi đồng dâm) là quan hệ luyến ái, tình dục giữa những người cùng giới tính, đều có bộ phận sinh dục phát triển bình thường” [134, 876]. Ở đây, cần lưu ý là đồng tính được biểu hiện ở hai cấp độ: tình cảm lãng mạn và hành vi tình dục. Những người bị coi là đồng tính hoặc có biểu hiện đồng tính không nhất thiết phải có quan hệ tình dục với người cùng giới tính với mình.