Chương 1: Cơ sở lý luận về việc quản lý hoạt động xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động xây dựng các trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động xây dựng các trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Vào những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước mới được hòa bình thống nhất, nhưng lại lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội, GD cũng không thể không bị ảnh hưởng, khi đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng có ý tưởng xây dựng trường học “Trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò, dạy ra dạy, học ra học”, định hướng cho ngành GD, mãi đến những năm cuối của thế kỷ XX đất nước mới bắt đầu ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đã có điều kiện hơn, nên ý tưởng về một nhà trường đảm bảo cho GD phát triển mới được cụ thể hóa ở mô hình “Trường chuẩn quốc gia”. Trường chuẩn quốc gia có các yếu tố cấu thành đủ đảm bảo để có chất lượng và hiệu quả GD. Xây dựng trường chuẩn quốc gia là quá trình lâu dài, liên tục theo bước đi hợp lý, được bắt đầu xây dựng từ cấp tiểu học, sau đó phát triển ở các cấp học, bậc học khác và được cụ thể bằng các văn bản: Ngành học mầm non: Quyết định số 45/2001/QĐ-BGDĐT ngày 26/12/2001 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, giai đoạn từ 2002-2005; Quyết định số 36/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/7/2008 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; Thông tư số 02/2014/TT-BGDĐT ngày 08/02/2014 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Cấp tiểu học: Quyết định số 1366/GD-ĐT ngày 26/4/1997 của Bộ GD&ĐT về ban hành Quy chế công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia; Quyết định số 32/2005/QĐ-BGDĐT ngày 24/10/2005 của Bộ GD&ĐT ban hành Quy chế công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia; Quyết định số 55/2007/QĐ-BGDĐT ngày 28/9/2007 của Bộ GD&ĐT ban hành Quy định mức chất lượng tối thiểu của trường tiểu học; Thông tư số 59/2012/TT-BGDĐT ngày 25/12/2012 của Bộ GD&ĐT ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá, công nhận trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu, trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cấp THCS: Quyết định số 27/2001/QĐ-BGDĐT ngày 05/7/2001 về ban hành Quy chế công nhận trường trung học đạt chuẩn quốc gia; Quyết định số 08/2005/QĐ-BGDĐT ngày 14/3/2005 của Bộ GD&ĐT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế công nhận trường trung học đạt chuẩn quốc gia (giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010); Thông tư số 06/2010/TT-BGDĐT ngày 26/02/2010 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia; Thông tư số 47/2012/TT-BGDĐT ngày 07/12/2012 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia. Những năm gần đây, việc xây dựng trường chuẩn quốc gia đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu xây dựng trường chuẩn quốc gia chưa được quan tâm. Thực tế, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề xây dựng trường chuẩn quốc gia như: Luận văn thạc sĩ “Những biện pháp cơ bản xây dựng đội ngũ GV trường chuẩn quốc gia ở THPT Xuân Đỉnh - Hà Nội”, của tác giả Nguyễn Viết Cẩn [11].
Luận văn thạc sỹ: “Một số giải pháp QL để xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh nghệ An” của tác giả Võ Minh Kỳ [18]. Luận văn thạc sỹ: “Xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá” của tác giả Tạ Quốc Tịch [23]. Bài viết "Xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001 - 2010", của tác giả Hà Thế Truyền, Học viện Quản lý Giáo dục (QLGD) đã tập trung nêu rõ mục tiêu, kết quả xây dựng trường chuẩn quốc gia và giải pháp thực hiện. Tác giả xác định xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia là một chủ trương đúng đắn nhằm từng bước xây dựng nhà trường theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, đồng thời đưa hoạt động GD toàn diện của nhà trường vào kỷ cương, nền nếp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học [27].
Ngoài ra, còn có một số công trình khoa học, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ khác cũng nghiên cứu về trường chuẩn quốc gia. Tuy nhiên, các công trình khoa học này đều tập trung vào biện pháp xây dựng trường mầm non, tiểu học đạt chuẩn quốc gia của Hiệu trưởng; kinh nghiệm xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc nghiên cứu một trong những tiêu chuẩn của trường chuẩn quốc gia, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn ở từng địa phương, chưa có đề tài nào nghiên cứu QL của phòng GD&ĐT trong việc xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện. Vì vậy, để đưa GD cấp THCS phát triển và đạt hiệu quả cao, tôi nhận thấy rằng cần phải QL xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia trong giai đoạn hiện nay và giai đoạn tiếp theo. Đây là việc làm cần thiết và có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp phát triển GD&ĐT.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm QL là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là nhân tố không thể thiếu trong đời sống và sự phát triển của xã hội loài người. Con người trong hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân, dự kiến kế hoạch sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình. Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế hoạch, sự phân công và điều hành chung sự hợp tác và QL lao động.
Như vậy, QL tất yếu nảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách quan được xuất phát từ nhu cầu của mọi xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. Ta có thể nêu một số định nghĩa về “Quản lý” như sau: Henry Fayol (1841-1925): Là người đầu tiên tiếp cận QL theo quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng QL từ thời kỳ cận - hiện đại tới nay, quan niệm rằng: “QL là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: Lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra”. Theo lý luận của Chủ nghĩ Mác-Lê nin về QL: “QL xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể QL đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [10; tập 5]. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “QL là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [12, tr.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chức năng của quản lý Chức năng kế hoạch hoá: Là quá trình xác định mục tiêu và quyết định những giải pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó. Như vậy, thực chất của kế hoạch hóa là đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch hóa với mục, giải pháp rõ ràng, bước đi cụ thể và ấn định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu. Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể QL đến hành vi và thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đề ra.
Chỉ đạo thể hiện quả trình ảnh hưởng qua lại giữa chủ thể QL và mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần thực hiện hóa các mục tiêu đã đặt ra. Chức năng kiểm tra: Là một chức năng quan trọng của QL nhằm đánh giá đúng thực trạng của hệ thống. Trên cơ sở ấy, người quản lý có những quyết định điều chỉnh một cách tối ưu nhất. Chức năng tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức một cách có hiệu quả.
Ứng với mỗi mục tiêu khác nhau, người QL cần lựa chọn cấu trúc tổ chức cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có. Quản lý giáo dục 1. Khái niệm Trên nhiều phương diện và cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số định nghĩa khác nhau về “QL giáo dục” như sau: Tác giả M.Kôndakôp cho rằng: “QL hệ thống GD là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ (CB), GD, kế hoạch hoá, tài chính…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD, bảo đảm sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [19, tr. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo nguyên lý và đường lối GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, GD thế hệ trẻ, đưa hệ thống GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [21].
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở cấp độ QL vi mô, tác giả Trần Kiểm cho rằng: "QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tập thể CB,GV,NV, tập thể học sinh (HS), cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường" [17, tr.