Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa thần tốc tại tỉnh Bắc Ninh đã tạo ra áp lực rất lớn lên công tác quản trị quỹ đất và bố trí nguồn lực tài chính công. Trong năm 2017, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh đạt 19,12%, dẫn đầu cả nước, đóng góp 3,11% vào quy mô kinh tế quốc gia với tổng thu ngân sách nhà nước đạt 21.597,7 tỷ đồng, vượt 31,5% so với dự toán. Sự phát triển vượt bậc của các trung tâm công nghiệp quy tụ các tập đoàn toàn cầu như Samsung và Canon đòi hỏi địa phương phải liên tục giải phóng mặt bằng, tạo lập quỹ đất sạch và phát triển hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ nghịch lý thực tiễn: dù nhu cầu phát triển quỹ đất rất cấp bách nhưng các địa phương thường xuyên thiếu hụt vốn ngân sách kịp thời cho bồi thường giải phóng mặt bằng, đồng thời quy trình đấu giá quyền sử dụng đất sau đầu tư hạ tầng diễn ra chậm chạp, gây ách tắc nguồn vốn hoàn trả. Quỹ phát triển đất tỉnh Bắc Ninh được thành lập năm 2011 với quy mô vốn ban đầu 500 tỷ đồng và tích lũy đạt 1.900 tỷ đồng vào cuối năm 2017, giữ vai trò huyết mạch trong việc điều tiết dòng vốn ứng trước ngân sách.

Mục tiêu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng công tác quản lý và luân chuyển nguồn vốn ứng giai đoạn 2016–2017 đối với 28 dự án với tổng mức vốn cấp ứng 445 tỷ đồng. Từ đó, tác giả nhận diện các điểm nghẽn về cơ chế, đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo toàn vốn và thúc đẩy tiến độ hoàn thành các dự án phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản trị tổ chức cổ điển của Henri Fayol, nhấn mạnh năm chức năng quản lý then chốt gồm lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều phối và kiểm soát nhằm chuẩn hóa chu trình vận hành dòng vốn từ khâu lập dự toán đến khâu quyết toán. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết quản trị theo mục tiêu của Peter Drucker, coi kết quả giải ngân và tỷ lệ thu hồi vốn thực tế là thước đo uy tín duy nhất cho hiệu lực của bộ máy tài chính công.

Về mặt khái niệm, Quỹ phát triển đất được xác định là tổ chức tài chính nhà nước ngoài ngân sách hoạt động theo Quyết định số 40/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, vận hành trên nguyên tắc bảo toàn vốn, bù đắp chi phí vận hành và không vì mục đích lợi nhuận theo cơ chế công khai tài chính tại Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg. Luận văn cũng tham chiếu mô hình phân cấp quản lý vốn gắn với ràng buộc trách nhiệm rủi ro đầu tư của tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) và mô hình bồi thường giải phóng mặt bằng theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" tại thành phố Đà Nẵng để xây dựng khung đánh giá thực tiễn.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được kết hợp chặt chẽ giữa nguồn thứ cấp và sơ cấp. Số liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo tài chính, quyết toán vốn ứng và niên giám thống kê của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011–2017. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu khảo sát thực địa với cỡ mẫu gồm 50 cán bộ chuyên trách tại 10 đơn vị thụ hưởng vốn ứng, bao gồm 3 Ban Quản lý dự án cấp huyện và thành phố (15 cán bộ), 5 Ủy ban nhân dân cấp huyện và thị xã (25 cán bộ), cùng 2 Ủy ban nhân dân cấp xã (10 cán bộ).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng để lựa chọn đúng 5 chuyên viên trực tiếp phụ trách công tác lập kế hoạch, thẩm định và thanh quyết toán vốn ứng tại mỗi đơn vị, bảo đảm thông tin thu thập đạt độ tin cậy và chuyên sâu cao nhất. Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh theo chiều ngang (biến động quy mô tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng tương đối) và so sánh theo chiều dọc (cơ cấu phân bổ danh mục dự án), kết hợp phương pháp tham vấn chuyên gia trong ngành tài chính và xây dựng cơ bản. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác dòng luân chuyển tiền tệ, đồng thời lý giải thấu đáo các rào cản chính sách phát sinh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nguồn vốn hoạt động của Quỹ ghi nhận sự tăng trưởng ổn định nhưng phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước. Khởi điểm năm 2011 với 500 tỷ đồng, vốn Quỹ được bổ sung lên 1.000 tỷ đồng năm 2014 và đạt 1.900 tỷ đồng vào ngày 30/12/2017, chủ yếu trích từ 30% tiền thu sử dụng đất của tỉnh mà chưa đa dạng hóa được từ các nguồn ủy thác quốc tế hay xã hội hóa.

Thứ hai, tốc độ và quy mô giải ngân vốn ứng tăng trưởng đột biến. Trong giai đoạn 2016–2017, Quỹ đã tiếp nhận và thực hiện ứng vốn cho 28 dự án. Năm 2016, tổng mức vốn ứng đạt 145 tỷ đồng cho 11 dự án (đạt 96,7% so với kế hoạch 150 tỷ đồng). Bước sang năm 2017, tổng vốn ứng giải ngân tăng vọt lên 300 tỷ đồng cho 17 dự án (đạt 100% kế hoạch), tương ứng mức tăng trưởng nguồn vốn cung ứng lên tới 106,9% chỉ sau một năm.

Thứ ba, cơ cấu vốn ứng có sự chuyển dịch tập trung tối đa cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Năm 2016, vốn bồi thường giải phóng mặt bằng chiếm 66,7% (100 tỷ đồng), xây dựng hạ tầng kỹ thuật chiếm 20% (30 tỷ đồng) và chi hỗ trợ chiếm 13,3% (20 tỷ đồng). Đến năm 2017, toàn bộ 100% nguồn vốn ứng (300 tỷ đồng) được dồn toàn lực cho 17 dự án giải phóng mặt bằng để kịp thời cung cấp đất sạch phục vụ phát triển hạ tầng và thu hút 3,5 tỷ USD vốn FDI vào tỉnh.

Thứ tư, công tác thẩm định và phân cấp ủy quyền được thực thi chặt chẽ theo 3 hạn mức thẩm quyền: Giám đốc Quỹ phê duyệt các gói dưới 10 tỷ đồng, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ phê duyệt từ trên 10 đến 30 tỷ đồng, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định các dự án trên 30 tỷ đồng. Tỷ lệ hồ sơ được thẩm định và cấp vốn đạt 91,7% năm 2016 và đạt 100% năm 2017. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khâu thu hồi vốn khi chính sách hiện hành quy định mức phí ứng vốn giải phóng mặt bằng là 0% và không áp dụng phí quá hạn, dẫn đến việc các đơn vị chậm trễ hoàn trả nợ gốc khi chưa tổ chức đấu giá đất thành công.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chậm thu hồi vốn ứng tại Quỹ phát triển đất tỉnh Bắc Ninh chủ yếu bắt nguồn từ độ trễ pháp lý trong khâu định giá đất và tiến độ đấu giá quyền sử dụng đất tại các địa bàn trọng điểm như thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ và huyện Yên Phong. Do không phải chịu áp lực chi phí tài chính quá hạn (mức phí 0,15%/tháng chỉ áp dụng cho các mục đích tạm ứng khác theo Thông tư số 49/2005/TT-BTC), nhiều chủ đầu tư có tâm lý ỷ lại, coi vốn ứng từ Quỹ như nguồn ngân sách cấp phát không hoàn lại tạm thời.

So sánh với bài học từ thành phố Đà Nẵng, việc thiếu vắng các chế tài tài chính cụ thể cùng cơ chế giám sát cộng đồng trong công tác giải phóng mặt bằng đã làm suy giảm tốc độ vòng quay vốn của Quỹ. Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua biểu đồ cột kép so sánh kế hoạch và thực tế giải ngân giai đoạn 2016–2017, kết hợp bảng luân chuyển vốn đa chiều để minh họa rõ nét tỷ trọng vốn ứ đọng theo từng địa bàn hành chính, từ đó làm cơ sở tái cấu trúc quy trình giám sát thu hồi nợ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế tài chính và chế tài thu hồi vốn ứng: Ban hành quy định áp dụng mức phí quá hạn từ 0,15% đến 0,20%/tháng đối với các khoản vốn chậm hoàn trả vượt quá thời hạn 12 tháng mà không có lý do bất khả kháng. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo Kho bạc Nhà nước thực hiện khấu trừ trực tiếp vào dự toán ngân sách phân bổ hàng năm của các huyện vi phạm cam kết, đặt mục tiêu kéo giảm 15% nợ đọng quá hạn trong giai đoạn 2020–2022.

Thứ hai, chuẩn hóa và rút ngắn quy trình thẩm định hồ sơ: Rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ từ 15 ngày xuống tối đa 7 ngày làm việc bằng cách số hóa 100% biểu mẫu và liên thông dữ liệu qua Trung tâm Hành chính công tỉnh. Phòng Nghiệp vụ Quỹ chủ trì xây dựng bộ tiêu chí chấm điểm rủi ro đối với từng dự án ngay từ quý 2 năm 2020.

Thứ ba, mở rộng và đa dạng hóa nguồn vốn hoạt động: Tăng tỷ lệ trích từ nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền đấu giá đất từ 30% lên mức 35%–40% hàng năm, đồng thời chủ động tiếp nhận nguồn vốn tài trợ và ủy thác quản lý của các tổ chức tín dụng để nâng tổng quy mô vốn Quỹ vượt mức 2.500 tỷ đồng vào năm 2025 dưới sự tham mưu của Sở Tài chính và Hội đồng quản lý Quỹ.

Thứ tư, siết chặt công tác kiểm tra, giám sát hiện trường: Thiết lập lịch thanh tra thực địa bắt buộc trước ngày 25 hàng tháng đối với 100% dự án đang nhận ứng vốn. Ban Kiểm soát Quỹ phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng định kỳ 6 tháng một lần nhằm bảo đảm an toàn và bảo toàn tuyệt đối nguồn vốn công.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý Quỹ phát triển đất các tỉnh, thành phố. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn về mô hình tổ chức bộ máy 20 cán bộ chuyên trách, phân cấp hạn mức thẩm định và cơ chế quản trị rủi ro luân chuyển dòng tiền công.

Nhóm 2: Các chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp huyện và thị xã. Luận văn hướng dẫn chi tiết quy trình chuẩn bị hồ sơ ứng vốn, xây dựng phương án bồi thường giải phóng mặt bằng và lập kế hoạch hoàn trả vốn khả thi nhằm tối ưu hóa tiến độ giải ngân.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế và Tài chính công. Công trình là tài liệu tham khảo giàu giá trị học thuật với hệ thống dữ liệu khảo sát 50 chuyên viên thực tế và phương pháp phân tích kinh tế định lượng chuẩn mực.

Nhóm 4: Các chuyên gia quy hoạch và thẩm định dự án bất động sản công. Luận văn cung cấp góc nhìn sâu sắc về chu trình chuyển hóa từ vốn tạm ứng ngân sách sang quỹ đất sạch và tác động của cơ chế đấu giá đất đến tính bền vững của thị trường.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên tắc quản lý tài chính cốt lõi của Quỹ phát triển đất tỉnh Bắc Ninh là gì? Quỹ vận hành theo nguyên tắc bảo toàn vốn, bù đắp chi phí phát sinh và không vì mục đích lợi nhuận theo Quyết định số 40/2010/QĐ-TTg. Toàn bộ nguồn vốn 1.900 tỷ đồng được cấp phát, tạm ứng và thu hồi đúng danh mục phê duyệt, chịu sự giám sát chặt chẽ của Kho bạc Nhà nước.

Thẩm quyền quyết định mức vốn ứng tại Quỹ phát triển đất tỉnh Bắc Ninh được phân định ra sao? Thẩm quyền được chia thành ba cấp cụ thể: Giám đốc Quỹ phê duyệt các gói ứng vốn dưới hoặc bằng 10 tỷ đồng; Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ quyết định các khoản trên 10 tỷ đến 30 tỷ đồng; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp phê duyệt các dự án quy mô trên 30 tỷ đồng.

Tại sao toàn bộ nguồn vốn ứng năm 2017 lại tập trung cho bồi thường giải phóng mặt bằng? Trong năm 2017, toàn bộ 300 tỷ đồng được bố trí cho 17 dự án bồi thường giải phóng mặt bằng nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết về tạo quỹ đất công nghiệp và đô thị, phục vụ tăng trưởng GRDP 19,12% và tạo điều kiện thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đạt 3,5 tỷ USD vào tỉnh.

Những nguyên nhân chính gây ách tắc trong công tác thu hồi vốn ứng là gì? Nguyên nhân chủ yếu do tiến độ lập thủ tục đấu giá quyền sử dụng đất bị kéo dài sau khi hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, kết hợp với việc Quỹ áp dụng mức phí 0% cho vốn ứng giải phóng mặt bằng và chưa có chế tài phạt quá hạn, làm giảm áp lực hoàn trả nợ đúng hạn của đơn vị nhận vốn.

Kinh nghiệm quản lý đầu tư từ thành phố Đà Nẵng có thể đóng góp gì cho tỉnh Bắc Ninh? Bắc Ninh có thể học tập Đà Nẵng trong việc cụ thể hóa quy trình bồi thường theo nguyên tắc "Nhà nước và nhân dân cùng làm", khen thưởng các đơn vị bàn giao mặt bằng sớm và phát huy vai trò giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc nhằm hạn chế chậm trễ tiến độ thi công.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện chu trình quản lý và sử dụng nguồn vốn 1.900 tỷ đồng của Quỹ phát triển đất tỉnh Bắc Ninh, phân tích thực trạng giải ngân 445 tỷ đồng cho 28 dự án trong giai đoạn 2016–2017.
  • Khẳng định vai trò xung kích của dòng vốn ứng trong việc thúc đẩy công tác giải phóng mặt bằng, tạo lập quỹ đất sạch và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt 19,12% năm 2017.
  • Chỉ rõ những tồn tại cốt lõi trong cơ chế thu hồi nợ do chính sách miễn phí ứng vốn và tình trạng chậm tổ chức đấu giá đất tại cấp cơ sở.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, tập trung vào chế tài tài chính, rút ngắn thời gian thẩm định xuống dưới 7 ngày và mở rộng quy mô vốn Quỹ lên 2.500 tỷ đồng vào năm 2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học vững chắc giúp các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện mô hình quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách tại các địa phương đang đô thị hóa mạnh mẽ.

Các cơ quan quản lý và đơn vị thụ hưởng vốn ứng cần khẩn trương áp dụng khung giải pháp nêu trên để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn công ngay trong chu kỳ kế hoạch tài chính tiếp theo.