Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý vốn các dự án đầu tư xây dựng bằng NSNN. - Chương 2: Thực trạng quản lý vốn các dự án đầu tư xây dựng bằng NSNN trên địa bàn huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk. - Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn các dự án đầu tư xây dựng bằng NSNN trên địa bàn huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ VỐN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG BẰNG NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Tổng quan về ngân sách nhà nƣớc và vốn các dự án đầu tƣ xây dựng bằng ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm nguồn vốn ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Ngân sách Nhà nước là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong những phương thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng.
Nói cách khác, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN. NSNN luôn gắn liền với Nhà nước, nó được dùng để chỉ các khoản thu nhập và chi tiêu của Nhà nước được thể chế hóa bằng pháp luật. Quốc hội thực hiện quyền lập pháp về NSNN, còn quyền hành pháp do Chính phủ thực hiện. Xét về hình thức, NSNN là một bản dự toán thu và chi do Chính phủ lập ra để trình Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện.
Xét về thực thể, NSNN bao gồm những nguồn thu, khoản chi cụ thể và được định lượng. Các nguồn thu đều được xếp vào một quỹ tiền tệ đó là quỹ NSNN và các khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy. Thu và chi quỹ này có quan hệ ràng buộc với nhau gọi là cân đối. Cân đối thu chi NSNN là một cân đối lớn trong nền kinh tế thị trường và được Nhà nước đặc biệt quan tâm.
Vì lẽ đó, có thể khẳng định NSNN là một quỹ tiền tệ lớn của Nhà nước. 11 Xét về các quan hệ kinh tế, các nguồn thu, khoản chi trong NSNN đều phản ánh những quan hệ kinh tế nhất định giữa Nhà nước với đối tượng nộp, giữa Nhà nước với đối tượng thụ hưởng. Theo Điều 4, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian xác định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Chi ngân sách nhà nước Chi ngân sách Nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
Chi ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách Nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Vì thế, chi ngân sách Nhà nước là những việc cụ thể, không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước. Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Chi NSNN bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương.
Trong đó, chi ngân sách địa phương bao gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Chi của ngân sách địa phương, bao gồm: Chi đầu tư phát triển (ĐTPT); chi thường xuyên; chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tư; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới. Trong đó chi cho đầu tư phát triển luôn là một 12 khoản mục chi quan trọng trong chi ngân sách Nhà nước của Chính phủ Việt Nam trong những năm qua. Chi ngân sách nhà nước là một bộ phận trong cơ cấu ngân sách Nhà nước.
Chi ngân sách Nhà nước là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân phối và sử dụng quỹ NSNN. Trong đó, chi đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ chi của Ngân sách nhà nước để thực hiện các chức năng, chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Vốn đầu tư bằng ngân sách nhà nước Vốn ngân sách Nhà nước được hiểu là tất cả các nguồn vốn được tính dựa trên các khoản thu, chi của Nhà nước, trong đó bao gồm các nguồn từ ngân sách cấp địa phương tới ngân sách cấp trung ương Nguồn vốn này đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm tài chính mà trong đó nguồn vốn chỉ được bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Nguồn vốn ngân sách nhà nước chủ yếu từ các khoản thế, phát hành tiền, lệ phí, phát hành tiền, nhận viên trợ, bán tài sản và đóng góp tự nguyện.
Vốn đầu tư từ ngân sách là một bộ phận cấu thành quan trọng của hoạt động chi ngân sách. Nó chính là nguồn tài chính do ngân sách Nhà nước chi ra để thực hiện nhiệm vụ đầu tư phát triển trong xã hội. Nếu xét trên tổng thể nền kinh tế thì nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước (Ig) được xác định theo công thức sau: Ig = (T - Cg) + Fg Trong đó: - T: là các khoản thu của khu vực nhà nước. - Cg: là các khoản chi tiêu của khu vực nhà nước không kể chi đầu tư.
Chênh lệch giữa khoản thu và chi này là tiết kiệm của khu vực nhà nước. 13 - Fg: là các khoản viện trợ và vay từ nước ngoài vào khu vực nhà nước. Dựa vào đẳng thức trên ta thấy đầu tư khu vực nhà nước được tài trợ từ ba nguồn: Một là, khả năng huy động vốn của khu vực nhà nước từ khu vực doanh nghiệp và cá nhân hoặc các tổ chức tài chính trung gian. Hình thức thức này được huy động bằng việc phát hành trái phiếu, kì phiếu của Nhà nước.
Hai là, tiết kiệm của khu vực nhà nước, bằng các khoản thu về ngân sách nhà nước trừ cho các khoản chi thường xuyên. Trong trường hợp các nước kém phát triển thì khoản tiết kiệm này rất khiêm tốn, không đủ đáp ứng nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển, nhất là vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng. Ba là, nguồn vốn giúp đỡ từ nước ngoài. Nguồn vốn này có vai trò khá quan trọng đối với các nước kém phát triển.
Các nguồn vốn từ nước ngoài thường dưới dạng viện trợ hoặc nợ. Vì vậy, chi ngân sách Nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư vào phát triển xã hội, đó là phần đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước, phần đầu tư này chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Khái niệm, vai trò của vốn dự án đầu tư xây dựng bằng NSNN 1. Khái niệm vốn dự án đầu tư xây dựng bằng NSNN - Vốn đầu tư là khái niệm bao gồm: Các nguồn lực về tài chính, nguồn tài nguyên, chất xám.
của chủ thể kinh tế và được đưa vào trong hoạt động đầu tư, chủ thể kinh tế ở đây có thể là các cá nhân, doanh nghiệp, ngành hay một quốc gia. Hay nói cách khác vốn đầu tư là giá trị tài sản xã hội được sử dụng nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai. 14 Nội dung của vốn đầu tư bao gồm: (i) Chi phí mua sắm các tài sản cố định gồm: Máy móc thiết bị, đất đai, nhà xưởng, bí quyết công nghệ; (ii) Chi phí mua sắm các tài sản lưu động và dự trữ tiền mặt để thanh toán hay trả lương (hay còn gọi là vốn lưu động); (iii) Các chi phí khác cho quá trình chuẩn bị đầu tư như chi phí khảo sát, lập dự án, làm các thủ tục cấp phép; chi phí cho quá trình thực hiện đầu tư. Hoạt động đầu tư xây dựng thực hiện bằng nhiều nguồn vốn: Vốn đầu tư của Nhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp, vốn đầu tư của tư nhân, vốn đầu tư của nước ngoài.
Trong đó nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng. Từ các tiếp cận về chi ngân sách, về vốn đầu tư bằng ngân sách nhà nước ta có thể hiểu: Vốn các dự án ĐTXD bằng NSNN là việc sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tập trung vào NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH, phát triển sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Căn cứ vào khoản mục chi phí, vốn các dự án ĐTXD bằng NSNN được cấu thành: - Vốn xây lắp: Vốn dùng để chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trình, chi phí phá và tháo dỡ các vật kiến trúc cũ, chi phí san lấp mặt bằng xây dựng, chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công, nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công. - Vốn thiết bị: Vốn dùng để chi phí mua sắm thiết bị công nghệ, chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ (nếu có), chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh, chi phí vận chuyển, bảo hiểm, thuế và các loại phí liên quan khác.
- Vốn khác: Vốn dùng cho các chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác, bao gồm: 15 + Chi phí quản lý dự án: Là các chi phí cần thiết để chủ đầu tư tổ chức thực hiện công việc quản lý dự án từ khi lập dự án đến khi hoàn thành nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng. + Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng: Là các khoản chi phí có liên quan nhưng không trực tiếp tạo nên hình khối của công trình, như: chi phí tư vấn khảo sát, thiết kế, giám sát xây dựng, tư vấn thẩm tra và các chi phí tư vấn đầu tư xây dựng khác. + Chi phí khác: Là vốn lưu động trong thời gian sản xuất thử và sản xuất không ổn định đối với các dự án đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh, lãi vay trong thời gian xây dựng và các chi phí cần thiết khác.