phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của chính quyền cấp huyện. Phân tích thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của chính quyền huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của chính quyền huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN 1. Vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Đầu tư XDCB là một hoạt động của đầu tư phát triển nhằm mục đích xây dựng thêm các công trình, tạo ra các tài sản cố định góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, đầu tư xây dựng cơ bản đóng vai trò quan trọng đến việc tăng sản lượng và thu nhập của quốc gia cũng như của từng địa phương.
Vốn đầu tư XDCB có thể từ nguồn NSNN và nguồn ngoài NSNN (từ các chủ thể khác trong xã hội). Trong phạm vi nghiên cứu này chúng ta chỉ xem xét vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN. Như vậy, vốn đầu tư XDCB từ NSNN là toàn bộ các khoản chi phí mà NSNN bỏ ra trong quá trình đầu tư để hình thành nên những công trình XDCB và được nhà nước quản lý tập trung theo kế hoạch hàng năm nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và của từng địa phương nói riêng. Đặc điểm của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Vốn đầu tư XDCB từ NSNN có những nét đặc trưng của sản phẩm hình thành từ quá trình đầu tư đó là công trình xây dựng đồng thời chịu sử quản lý nhà nước về ngân sách.
Do đó vốn đầu tư XDCB từ NSNN có những đặc điểm sau: Một là, vốn đầu tư XDCB từ NSNN chủ yếu được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật và không thu hồi vốn. Đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội như: đường giao thông, bệnh viện, trường học, trung tâm văn hóa thể dục thể thao. là những sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội, lượng vốn đầu tư này có thể 7 vượt quá khả năng của tư nhân, hoặc thời gian thu hồi vốn kéo dài, nên NSNN thường bỏ ra để đầu tư xây dựng. Hai là, vốn đầu tư XDCB từ NSNN thường có quy mô lớn và thời gian đầu tư dài.
Công trình XDCB từ khi bắt đầu triển khai thực hiện đến khi đưa vào sử dụng trải qua rất nhiều công đoạn có sự tham gia ở nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau tiêu hao về lao động nhân công nguyên nhiên vật liệu là khá lớn. Mặt khác công trình XDCB không thể sản xuất tại nơi có chi phí sản xuất rẻ sang nơi có phí phí sản xuất cao vì công trình XDCB thường cố định tại một địa điểm không di chuyển được từ nơi này sang nơi khác do vậy công trình XDCB thường có giá thành cao. Công trình xây dựng cơ bản không như các sản phẩm khác được sản xuất đồng loạt mà nó là tập hợp của các loại nguyên nhiên vật liệu được sản xuất đồng loạt và đem lắp ghép hoàn thiện lại với nhau để tạo thành; tuy nhiên, phải trải qua rất nhiều công đoạn mới hình thành nên công trình XDCB, do đó vốn đầu tư XDCB thường dài hạn. Các công trình XDCB thường có quy mô đầu tư lớn, thời gian đầu tư thường kéo dài nên rất dễ dẫn đến tình trạng thất thoát vốn trong quá trình đầu tư.
Ba là, vốn đầu tư XDCB từ NSNN chịu sự quản lý của nhiều cơ quan và được phân cấp quản lý một cách chặt chặt chẽ theo quy định của pháp luật. Vì vậy quá trình cấp phát, sử dụng vốn thường cứng nhắc, bị động và dễ bị chậm trễ trong quá trình xây dựng các công trình. Bốn là, vốn đầu tư XDCB từ NSNN thường được cấp phát và sử dụng theo kế hoạch hàng năm trên cơ sở lập dự toán. Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là công cụ giúp chính quyền điều hành và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
Vốn đầu tư XDCB từ NSNN chủ yếu là để đầu tư và phát triển hệ thống dịch vụ công cộng và tạo tiền đề để cho các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước cũng như của từng địa phương phát triển qua đó sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và đời sống qua đó làm tăng tổng cầu trong ngắn hạn của nền kinh tế để kính thích tăng trưởng và phát triển kinh tế. 8 Vốn đầu tư XDCB góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ. Để thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế tư nhân cũng như đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp từ nước ngoài nhằm mục đích phát triển kinh tế thì điều đầu tiên cần phải có đó là cơ sở hạ tầng phải đồng bộ và hiện đại. Do đó, việc đầu tư XDCB từ NSNN để xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ sẽ thu hút được tất cả các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình tăng trưởng cũng như phát triển KT-XH của đất nước.
Vốn đầu tư XDCB từ NSNN tạo ra nhiều việc làm cho người lao động và làm giảm thất nghiệp Công trình xây dựng cơ bản từ khi bắt đầu triển khai thực hiện đến khi đưa vào sử dụng trải qua rất nhiều công đoạn có sự tham gia ở nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau tiêu hao về lao động, nhân công, nguyên nhiên vật liệu là khá lớn. Mặt khác công trình XDCB không thể sản xuất đồng loạt mà thường đơn lẻ nó là tập hợp của các loại nguyên nhiên vật liệu được sản xuất đồng loạt và đem lắp ghép hoàn thiện lại với nhau để tạo thành. Tuy nhiên phải trải qua rất nhiều công đoạn mới hình thành nên công trình XDCB, do đó thường sử dụng một lượng nhân lực rất lớn. Do đó hoạt động đầu tư XDCB tạo ra nhiều việc làm cho người lao động và góp phần làm giảm thất nghiệp 1.
Quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc của chính quyền cấp huyện 1. Khái niệm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của chính quyền cấp huyện Theo Giáo trình QLNN về kinh tế của trường Đại học Kinh tế quốc dân (2005) thì khái niệm QLNN về kinh tế nói chung được định nghĩa: “Quản lý nhà nước về kinh tế nói chung là quá trình hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động kinh tế của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục tiêu phát triển KT-XH với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động”. Theo chu trình vận động vốn đầu tư, Giáo trình Tài chính công (2006) của 9 Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm: “Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN là tổng thể các biện pháp và công cụ mà Nhà nước tác động vào quá trình huy động, cấp phát và sử dụng vốn từ NSNN để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra trong từng giai đoạn trên cơ sở tuân thủ các chính sách, quy định pháp luật về vốn”. Với cách tiếp cận theo quá trình quản lý chung QLNN về kinh tế có thể hiểu quản lý vốn đầu tư XDCB của chính quyền cấp huyện như sau: Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của chính quyền cấp huyện là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cấp phát, thanh, quyết toán và kiểm soát vốn đầu tư XDCB của chính quyền cấp huyện nhằm bảo đảm sử dụng vốn nhà nước được sử dụng đúng quy định của pháp luật, đúng mục đích và đạt hiệu quả cao nhất.
Mục tiêu và tiêu chí đánh giá quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của chính quyền cấp huyện 1. Mục tiêu quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của chính quyền cấp huyện Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN nhằm bảo đảm: - Vốn đầu tư được sử dụng đúng quy định của pháp luật; - Phân bổ vốn đầu tư đúng mục đích, phù hợp với chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển kinh tế xã hội của huyện; - Phân bổ kế hoạch vốn đầu tư XDCB đúng đối tượng và đúng tiến độ cho các công trình; - Sử dụng vốn đầu tư tiết kiệm, hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí. Tiêu chí đánh giá quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của chính quyền cấp huyện Để lượng hóa việc đánh giá quản lý vốn đầu tư XDCB cần dựa vào các tiêu chí đánh giá thực hiện mục tiêu quản lý của chính quyền cấp huyện đối với vốn đầu tư XDCB từ NSNN (thực hiện đúng mục tiêu không, thực hiện mục tiêu ở mức độ nào …); qua các tiêu chí cụ thể như sau: - Tỷ lệ giải ngân vốn: Số vốn đã giải ngân/ Tổng số kế hoạch vốn được giao 10 (bằng số vốn đã giải ngân hàng năm chia cho tổng kế hoạch vốn năm). Trong đó, số vốn đã giải ngân là tổng số vốn thực tế đã rút ra khỏi ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn đã thanh toán vào khối lượng hoàn thành và phần vốn tạm ứng theo chế độ còn chưa có khối lượng thực hiện).
- Tỷ lệ thanh toán khối lượng hoàn thành được tính bằng số vốn đã thanh toán KLHT/Tổng số vốn đã thanh toán. Do hiện nay theo quy định trong việc giải ngân kế hoạch vốn, nhà thầu có thể ký hợp đồng với chủ đầu tư và ra thanh toán tạm ứng theo hợp đồng với KBNN để có vốn thực hiện dự án. Tỷ lệ này thấp phản ánh việc nhà thầu thực hiện xây dựng kém hiệu quả, tạm ứng vốn về không thực hiện hoặc chiếm dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình khác của nhà thầu.