Chương 1: Những cơ sở lý luận chung về quản lý vốn đầu tư nhà nước. Chương 2: Thực trạng quản lý vốn đầu tư nhà nước trong khu vực nông thôn tại tỉnh Savannakhet trong thời kỳ từ năm 2008 đến nay. Chương 3: Một số giải pháp nhằm quản lý vốn đầu tư nhà nước vào khu vực nông thôn tại tỉnh Savannakhet. Tổng quan tài iệu nghiên cứu Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý vốn đầu tư nhà nước vào khu vực nông thôn của nhiều tác giả như: - Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Dương Cao Sơn về "Hoàn thiện công tác quản lý chi vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn NSNN "; - Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của tác giả Lê Xuân Kinh về "Tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN ở tỉnh Nghệ An", 1999.
Luan van 4 Tuy nhiên các công trình khoa học này đa số nghiên cứu từ góc độ tài chính, hoặc về cơ chế quản lý, hoặc về tình hình cụ thể ở một đơn vị, địa phương. Do đó, các đề tài ít đề cập đến giác độ tổng thể của quản lý vi vô và vĩ mô, tác động qua lại giữa các chủ thể tham gia vận hành vốn, nghiên cứu cơ chế tác động với tất cả các yếu tố chi phí sử dụng vốn với các chỉ tiêu xem xét, phân tích đánh giá phù hợp hơn trong cơ chế mới. Mặt khác, đề tài này vận dụng các lý luận khoa học để nghiên cứu trên địa bàn một tỉnh nghèo, mặt bằng chung về quản lý và kinh tế xã hội không cao nhưng đang xuất hiện nhiều nhân tố, nhiều dự án lớn mà nguồn ngân sách sẽ đầu tư. Do đó, trên cơ sở kế thừa những đề tài đã nghiên cứu, với đề tài nghiên cứu này, luận văn sẽ làm rõ hơn thực trạng quản lý vốn đầu tư nhà nước vào khu vực nông thôn tại tỉnh Savannakhet, từ đó đưa ra các giải pháp quản lý vốn đầu tư nhà nước vào khu vực phù hợp với tình hình hiện tại tỉnh Savanakhet.
Luan van 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƢ NHÀ NƢỚC 1. NHỮNG KH I NIỆM VỀ ĐẦU TƢ NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm về vốn đầu tƣ nhà nƣớc Nhìn chung, ở CHDCND Lào tuy trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp nhưng đã có sự chênh lệch khá lớn giữa thành thị và nông thôn. Cơ sở hạ tầng ở các đô thị nước Lào hiện nay, đặc biệt là ở đô thị lớn, thì đã có sự tập trung quá mức, gây lãng phí về nhiều mặt, làm chậm quá trình phát triển và hiệu quả kinh tế - xã hội của chính bản thân đô thị đó.
Việc phát triển nông thôn và hình thành những đô thị nhỏ (cả các thị trấn, thị tứ, thị xã) sẽ cho phép làm giảm bớt sự khác biệt về trình độ phát triển, sự phân hóa xã hội và tác động tiêu cực của chúng tới sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Đối với nước nghèo, để phát triển kinh tế, và từ đó để thoát ra khỏi cảnh nghèo thì một vấn đề nan giải ngay từ lúc đầu là thiếu vốn gay gắt và từ đó dẫn tới thiếu nhiều thứ khác cần thiết cho sự phát triển như: công nghệ, cơ sở hạ tầng…Vì vậy, để thực hiện đường lối chính trị cũng như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước đề ra, vấn đề đầu tư nhà nước vào KT - XH khu vực nông thôn là rất quan trọng và cần phải làm để cải thiện và nâng cao đời sống mọi mặt cho nông dân, từng bước đưa nền nông nghiệp tự nhiên và nửa tự nhiên lên nền sản xuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa. Đầu tư nhà nước và khu vực nông thôn là hai nhân tố có mối quan hệ mật thiết, chúng vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả và quyết định lẫn nhau. Nếu ĐTNN là nhân tố quan trọng trong việc tạo ra điều kiện cơ bản về cơ sở vật chất - kỹ thuật cho sự phát triển KT - XH khu vực nông thôn thì bản thân sự phát triển KT - XH nông thôn cũng là điều kiện để nuôi dưỡng nguồn vốn cho ĐTNN.
Luan van 6 Trong quá trình phát triển các mặt kinh tế - xã hội, một điều kiện có tính tiên đề không thể thiếu được đó là vốn. Chính sự phát triển của thế giới ngày nay đã minh chứng thật thuyết phục, vốn là nhân tố đặc biệt quan trọng, là chìa khóa của sự thành công về tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trước khi đưa ra khái niệm về VĐTNN, chúng ta cần phân tích các khái niệm về vốn nói chung. Vốn là nhân tố tiền đề cho ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi đơn vị kinh tế.
Là một phạm trù tài chính, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được tạo lập và đưa vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Như vậy, vốn được biểu hiện bằng giá trị và đại diện cho một khối lượng tài sản nhất định. Giữa vốn và tiền có quan hệ với nhau. Muốn có vốn thì phải có tiền, song có tiền thậm chí những khoản tiền được gọi là vốn cũng không phải là vốn.
Một khối lượng tiền được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp khi đáp ứng các điều kiện như tiền phải đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực, tiền phải được tích tụ và tập trung đủ để đầu tư cho một dự án, tiền phải vận dụng nhằm mục đích sinh lời. Vốn vừa là nhân tố đầu vào, đồng thời vừa là kết quả phân phối thu nhập đầu ra của quá trình đầu tư. Chính trong quá trình đó, vốn tồn tại với tư cách là một nhân tố độc lập, không thể thiếu được. Vốn khi được đầu tư và sau một thời gian hoạt động phải được thu về để tiếp ứng cho chu kỳ kinh doanh sau không thể mất đi mà vốn luôn phải được bảo toàn và phát triển.
“Vốn” là một phạm trù kinh tế được dùng trong nghiên cứu khoa học và trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, xây dựng và phát triển đất nước. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học “vốn” là đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học. Chính vì vậy, hiện nay đã có rất nhiều khái niệm về vốn được công bố trong các sách, báo, giáo trình, công trình khoa học dưới góc độ hiểu biết và tầm nhìn khác nhau. Với đặc điểm và điều kiện hiện nay, tác giả chọn lọc, tiếp cận và đồng Luan van 7 tình với một số khái niệm vốn sau: Khi nghiên cứu quá trình sản xuất hay đầu tư tư bản chủ nghĩa (TBCN), C.Mác đã vạch ra rằng “với lao động thặng dư của mình trong năm, giai cấp công nhân đã tạo ra một tư bản, tư bản này năm sau lại sẽ mướn thêm một số lao động mới.
Đó chính là cái mà người ta gọi là “tư bản đẻ ra tư bản”, Và trong quá trình ấy. Nếu ta cố định những hình thái biểu hiện đặc biệt mà một giá trị đang tăng lên lần lượt mang lấy trong vòng đời của nó, thì chúng ta sẽ đi đến những định nghĩa như sau: tư bản là tiền, tư bản là hàng hóa.Mác cũng nhấn mạnh rằng, tiền với tư cách là tư bản (vốn) nó phải luôn luôn vận động không ngừng. Sự vận động của vốn hay tuần hoàn của tư bản, theo Mác nó luôn trải qua ba giai đoạn (T-H. Giai đoạn thứ nhất (T - H) gọi là lưu thông (l) là giai đoạn trao đổi (giao phối) giữa các giá trị của vốn (vốn tiền tệ và vốn hiện vật).
Giai đoạn thứ hai (SX) là giai đoạn sản xuất để tạo ra giá trị mới của tư bản hàng hóa (H') hay là giai đoạn vốn đang mang thai H'; và giai đoạn thứ ba (H'-T') là lưu thông (2), là giai đoạn tư bản thực hiện giá trị mới (hay giai đoạn tư bản đang đẻ ra giá trị mới T'). Từ sự vận động này mà tư bản đã tạo ra được giá trị mới hơn giá trị cũ của nó. Đó là thực chất của tiền với tư cách là tư bản. Ngày nay, các nhà kinh tế học hiện đại nghiên cứu phạm trù vốn dưới nhiều giác độ khác nhau, họ cho rằng vốn phải bao gồm hầu hết các yếu tố sản xuất và được chia làm nhiều loại.
Các nhà kinh tế học Mác Xít đã kế thừa phát triển những thành tựu của Mác và các trường phái kinh tế trong lịch sử nghiên cứu về vốn. Đã chỉ ra nguồn gốc chủ yếu của vốn tích lũy là lao động thặng dư của người lao động được dùng vào việc mở rộng và phát triển sản xuất xã hội. Trong những năm gần đây có một nhà nghiên cứu kinh tế người Hàn Quốc, Sang Sung Part đã đi đến kết luận khá chính xác được nhiều người Luan van 8 chấp nhận rằng: Các nước đang phát triển có rất ít khả năng sản xuất tư liệu sản xuất, đặc biệt là máy móc thiết bị; nhất là trong giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển từ một nền kinh tế tự cấp, tự túc, tiết kiệm bằng tiền của người tiêu dùng sẽ là quá ít ỏi có thể đầu tư ở những nơi còn chưa có khả năng sản xuất ra tư liệu sản xuất. Từ những lý lẽ trên, Sang Sung Part rút ra kết luận: - Các nước đang phát triển nên cố gắng xây dựng các ngành sản xuất tư liệu sản xuất ngay khi đạt trình độ công nghệ đủ để sản xuất các tư liệu sản xuất, nếu chưa đạt cần phải cố gắng tăng nhập khẩu tư liệu sản xuất bằng cách giảm tiêu dùng trong nước thông qua hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng.
- Các nước đang phát triển cần cố gắng trong việc vay các tư liệu sản xuất chứ không phải vay hàng tiêu dùng. Đó là biện pháp để trang trải sự thiếu hụt trong cán cân thanh toán trên thị trường quốc tế. Từ nhận định đó, Sang Sung Part định nghĩa về vốn như sau: “Dưới dạng tiền tệ, vốn được định nghĩa là khoản tích lũy, là phần thu nhập thường có chưa được tiêu dùng. Về mặt hiện vật, vốn được chia thành hai phần vốn cố định và vốn tồn kho là các tư liệu sản xuất được sản xuất bằng hiện vật được sản xuất trong khu vực sản xuất hay được nhập khẩu” Và khi nói về tổng số vốn, ông cho rằng đó là tài sản quốc gia, được tích luỹ từ lượng sản phẩm vật chất hiện có và được trực tiếp sử dụng vào quá trình sản xuất hiện tại, không kể tài nguyên thiên nhiên như đất đai và hầm mỏ và nó không được tạo ra các hoạt động đầu tư.