Chương 1: Cơ sở Lý luận về văn hóa công sở Chương 2: Thực trạng thực hiện văn hóa công sở tại UBND Huyện Ứng Hòa. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện văn hóa công sở tại UBND Huyện Ứng Hòa. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ 1.Khái niệm Khái niệm văn hóa xuất hiện khá sớm trong lịch sử loài người, có rất nhiều quan điểm khác nhau và chúng phát triển dần qua các giai đoạn lịch sử. Văn hoá là một hoạt động nhằm phát huy những nhu cầu và năng lực bản chất của con người, vươn tới cái chân, thiện, mỹ, nhằm tạo ra những giá trị, chuẩn mực xã hội, đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng nhân cách của con người.
Với ý nghĩa đó, văn hoá có mặt ở mọi hoạt động sản xuất vật chất cũng như sản xuất tinh thần của con người, trong mọi quan hệ ứng xử xã hội hay thái độ đối với thiên nhiên. Văn hoá là những tri thức khoa học, sự hiểu biết, trình độ học vấn, trình độ tiếp thu và vận dụng những kiến thức khoa học. Hệ thống kiến thức được con người sáng tạo, tiếp thu, tích luỹ, bổ sung và luôn luôn đổi mới qua lao động sản xuất, đấu tranh giữa con người với thiên nhiên và xã hội. Qua đó con người tiếp xúc, giao tiếp với nhau, hình thành nên những tập tục, những cách đối nhân xử thế nhất định.
Sự hiểu biết được sử dụng làm nền tảng và định hướng cho lối sống, nếp suy nghĩ, đạo đức, tâm hồn và hoạt động của mỗi dân tộc để đạt tới chân, thiện, mỹ trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hoá là những phương thức sản xuất, cách thức sinh hoạt khác nhau của cộng đồng người, hội tụ tri thức và sáng tạo ra văn minh tinh thần, văn minh vật chất. Nó có đặc điểm của tính lịch sử, tính truyền thống, tính dân tộc v.Chính vì vậy, trong lịch sử các thời kỳ khác nhau, ở các nước và khu vực khác nhau, dân tộc khác nhau đều sáng tạo ra những nền văn hoá rực rỡ, huy hoàng. 9 Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hoá” thông qua tại Hội nghị quốc tế do Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) tổ chức tại Mêhicô năm 1982: Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.
Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn.
Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”. Nói một cách ngắn gọn hơn: “ Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc từng khẳng định bản sắc riêng của mình”. Hiện nay Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đang nhìn nhận văn hóa với một ý nghĩa rộng rãi hơn, coi văn hóa như một phức thể - tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm. khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội.
Từ điển Triết học đưa ra định nghĩa: “Văn hóa gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội. Văn hóa là một 10 hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội”. Ở nước ta, theo từ điển tiếng Việt thì văn hoá có năm nghĩa: - Một là: Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (Ví dụ: Kho tàng văn hoá Việt Nam); - Hai là: Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần - nói một cách tổng quát (Ví dụ: Phát triển văn hoá); - Ba là: Tri thức, kiến thức khoa học (Ví dụ: Trình độ văn hoá); - Bốn là: Trình độ cao trong sinh hoạt văn hoá xã hội, biểu hiện của văn minh (Ví dụ: Sống có văn hoá); - Năm là: Nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (Ví dụ: Văn hoá Đông Sơn). Năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa hết sức xác đáng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [19, tr. Với định nghĩa này, Hồ Chí Minh bằng cách tiếp cận biện chứng đã nắm bắt trạng thái vận động và cả trạng thái tĩnh của văn hóa. Như vậy, Hồ Chí Minh đã thấy văn hoá là cơ chế tổng hợp để hình thành và phát triển con người xã hội. Và chính Người với tầm nhìn xa đã thực sự coi trọng và khẳng định vai trò to lớn của văn hoá đối với sự nghiệp cách mạng, sự phát triển của con người và xã hội.
Những năm gần đây, nghiên cứu văn hóa thực sự trở thành một môn khoa học tại Việt Nam. Một số học giả tập trung nghiên cứu về văn hóa tiếp tục đưa ra các quan niệm của mình về văn hóa. Trên cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hóa, Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá 11 trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [25, tr. Định nghĩa này đã nêu bật bốn đặc trưng quan trọng của văn hóa là: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh.
Mặc dù đứng ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau nên cách giải thích, cách quan niệm cũng khác nhau song nhìn chung, đại đa số các nhà nghiên cứu văn hóa đều quan niệm văn hóa gắn với con người, là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra, trở thành bộ phận cơ bản trong xã hội. Tóm lại, văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hóa là hoạt động nhằm phát huy những năng lực bản chất của con người, vươn tới cái chân, cái thiện và cái mỹ, nhằm tạo ra những giá trị, những chuẩn mực xã hội. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân và hoạt động có hướng đích nhằm đạt tới một giá trị nào đó trong xã hội.Những đặc trưng cơ bản của văn hóa 1.
Tính hệ thống Như là một tổ chức hữu cơ, văn hóa bao gồm hệ thống các hiện tượng, các sự kiện có quan hệ khăng khít, chi phối và chế ước lẫn nhau. Do văn hóa có tính hệ thống cho nên nó bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Tính giá trị Giá trị văn hóa được mọi người tin tưởng, chúng xác định những cái mà người ta ao ước. Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.
Từ đó, cho phép phân biệt văn hóa và phi văn hóa, phản văn hóa. Mỗi dân tộc có mỗi tính giá trị văn hóa riêng. Nó thường xuyên điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì sự ổn định và không ngừng hoàn thiện. Tính lịch sử Văn hóa được truyền từ đời này sang đời khác.
Một nền văn hóa được hình thành qua nhiều thế hệ vốn có tính bền vững và lâu dài. Một nền văn hóa 12 không bao giờ tĩnh tại và bất biến. Văn hóa luôn thay đổi và rất năng động. Nó luôn tự điều chỉnh cho phù hợp với trình độ và tình hình mới trong quá trình hội nhập và giao thoa giữa các nền văn hóa, nó tiếp thu những giá trị tiến bộ, hoặc tích cực của các nền văn hóa khác, bổ sung cho giá trị văn hóa truyền thống.
Ngược lại, nó cũng tác động và ảnh hưởng nền văn hóa khác. Tính nhân sinh Văn hóa là thành tựu của con người, do con người sáng tạo ra, phục vụ lợi ích của con người. Ngày nay, văn hóa có vai trò quan trọng chưa từng thấy trong lịch sử. Sự tiến bộ hay lạc hậu của một cá nhân, sự hưng vong của mỗi quốc gia, sự thành công hay thất bại của một chiến lược phát triển đều tùy thuộc rất nhiều vào sự nhận thức và phát triển văn hóa.
Khái niệm công sở Theo pháp luật – hành chính, 1992 do Đoàn Trọng Truyến chủ biên, “Công sở - xét về nội dung công việc, là hoạt động thỏa mãn một yêu cầu lợi ích chung, do vậy cần được sự bảo vệ và kiểm tra của bộ máy hành chính nhà nước và chỉ Nhà nước mới bảo đảm thỏa mãn nhu cầu này. Xét về hình thức tổ chức, là một tập hợp có tổ chức, có phương tiện vật chất và người được nhà nước hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình. Từ này đồng nghĩa với cơ quan công sở trong hệ thống tổ chức bộ máy hành chính nhà nước”.