CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VĂN HÓA CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Văn hóa Nhắc đến thế giới loài người – thế giới cao cấp và tiến bộ thì không thể không nhắc đến văn hóa. Văn hóa được xem như nhân tố quan trọng nhất khiến con người trở nên khác biệt giữa vô vàn sinh vật đang tồn tại và cùng chung sống trên trái đất.
Văn hóa xuất hiện trong xã hội loài người và chỉ xã hội loài người. Chúng ta đã quá quen với hai từ văn hóa nhưng để trình bày một cách rõ ràng, rành mạch về định nghĩa “văn hóa” thì không phải ai cũng có thể làm được. Ngày nay vẫn tồn tại rất nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa văn hóa, thậm chí còn có những tranh luận xoay quanh khái niệm này. Có thể thấy, khái niệm văn hóa có nhiều cách hiểu dựa trên mục tiêu nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu.
Vào khoảng những năm 50 của thế kỉ trước, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã thống kê được 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,.và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều. Sau đây là một số định nghĩa về văn hóa: Theo UNESCO: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể của nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã Luan van 8 hội hay một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm văn hóa nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục, những tín ngưỡng… Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân và chính văn hóa làm cho chúng trở thành những nhân vật đặc biệt cơ bản, có lý tính, có phê phán và chân thật một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành để xem xét, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội trên bản thân” [38, tr.5] Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa được hiểu như sau: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.431] GS - TS Trần Ngọc Thêm lại cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [39, tr.
Đây là một số định nghĩa khác nhau về văn hóa. Như đã trình bày ở trên, muốn hiểu rõ khái niệm văn hóa cần xác định đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu để tiếp cận các phương diện khác nhau của văn hóa cho phù hợp. Như vậy có thể hiểu một cách khái quát “Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên. Văn hóa là Luan van 9 khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v. Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa. Công vụ Cũng tương tự như văn hóa, thuật ngữ công vụ được nghiên cứu, và xem xét dựa trên nhiều phương diện khác nhau. Xem xét trên các phạm vi khác nhau, công vụ có thể được hiểu như sau: Hiểu một cách chung nhất, công vụ là các công việc công.
Các công việc này được làm vì lợi ích của tập thể, của cộng đồng và xã hội, rộng hơn là lợi ích nhà nước, không của riêng cá nhân nào. Hiểu một cách hẹp hơn, công vụ để chỉ các công việc trong hoạt động của nhà nước. Cách hiểu này đã trở thành khái niệm về công vụ của nhiều quốc gia trên thế giới. Như vậy, với cách hiểu này, công vụ đi liền với những người làm việc cho Nhà nước và những công việc của Nhà nước do người đó chịu trách nhiệm và thực hiện.
Cách hiểu này đã thu hẹp hơn phạm vi của công vụ so với cách thứ nhất. Điều này giải thích cho việc ở nhiều quốc gia, công vụ và công chức là hai khái niệm không bao giờ độc lập với nhau. Cụ thể hơn nữa, một số quốc gia coi công vụ chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động của các cơ quan hành pháp mà không tính đến các hoạt động lập pháp và tư pháp (xét xử và công tố) trong bộ máy nhà nước. Dưới đây là một số cách định nghĩa khác nhau về khái niệm công vụ.
[6] - Công vụ là các hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước. - Công vụ là một hệ thống bao gồm tất cả hoạt động của những người lao động mang tính dân sự trong các cơ quan nhà nước và được bổ nhiệm dựa Luan van 10 trên năng lực, không phải dựa vào sự liên kết chính trị. Theo cách hiểu này, công vụ không bao gồm các hoạt động mang tính quân sự. - Công vụ theo từ điển Oxford, được hiểu là toàn bộ các cơ quan của Chính phủ không kể lực lượng quân đội hoặc công vụ sử dụng để chỉ một nhóm người làm việc trong các cơ quan nhà nước (dân sự).
- Công vụ là hoạt động đem lại quyền lợi chung cho mọi người. Điều này cũng có thể thấy: công vụ (thuật ngữ) càng gần với khái niệm dịch vụ công, khu vực công, hành chính công. - Công vụ là một loại lao động (hoạt động) đặc biệt thực hiện chức năng quản lý nhà nước, thi hành luật pháp sử dụng hiệu quả nguồn lực công (công sản, ngân sách) nhằm đáp ứng mục tiêu của Nhà nước (chính trị) đã đề ra trong giai đoạn phát triển. Tuy nhiên, công vụ thường hiểu theo nghĩa của các hoạt động cụ thể hơn là cơ cấu.
- Công vụ gắn liền trực tiếp với con người là công chức. Công vụ bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong một công sở hay một thực thể công, và được xếp vào một trong những ngạch của nền hành chính. Bên cạnh đó, ở một số tài liệu khác, công vụ được đề cập với định nghĩa như sau: - Công vụ là hoạt động để thực hiện ý chí của nhân dân bởi Nhà nước và cơ quan Nhà nước. - Công vụ là quy chế, nguyên tắc hoạt động của các cơ quan Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng quản lý xã hội theo mục tiêu đã vạch ra.
- Công vụ là hoạt động thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước - Công vụ là loại lao động mang tính quyền lực, pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chính sách của Nhà nước. Luan van 11 - Căn cứ vào những hoạt động của hệ thống các cơ quan Nhà nước, có thể hiểu công vụ là "hoạt động thực thi nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước do chính những con người của Nhà nước thực hiện". Những định nghĩa trên đúng với nghĩa gốc của từ công vụ, tuy nhiên không thể đúng tuyệt đối với tất cả các quốc gia. Mỗi đất nước sẽ có thể chế riêng nên cần có cách hiểu linh hoạt về qui mô, nội dung, nhóm công việc.
Cần lưu ý các lĩnh vực sau đây không được xem xét là công vụ: - Hoạt động của lực lượng vũ trang trong việc bảo vệ đất nước chống xâm lược; - Hoạt động của các cơ quan lập pháp. Đó là những đại biểu dân cử hoạt động theo nhiệm kỳ. - Hoạt động của những đối tác tham gia cùng với Nhà nước. Đó là sự liên kết giữa Nhà nước với các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội; với khu vực tư nhân.
Trong một số trường hợp cụ thể, các hoạt động đều do Nhà nước thực hiện, nhưng tham gia của nhiều lực lượng khác (ví dụ trong công tác phòng chống thiên tai) cũng có thể coi đó là hoạt động mang tính công vụ. Ngoài ra, công vụ cũng có thể hiểu là nhiệm vụ của khu vực công; là nhiệm vụ và là trách nhiệm của Nhà nước. Trước đây, Nhà nước đảm nhận và thực hiện cung cấp nhiều loại dịch vụ công. Tuy nhiên với xu hướng xã hội ngày nay, Nhà nước đang thực hiện việc chuyển giao dần dần phần nào các công việc ấy cho khu vực khác.
Điều này dẫn đến một thực tế là công vụ được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, chỉ những công việc công do Nhà nước phải đảm nhận thực hiện hoặc có trách nhiệm thực hiện (cung cấp tài chính, chính sách,. Trên thực tế, mỗi quốc gia có một đặc thù riêng nên không thể có một định nghĩa hoàn toàn chính xác về công vụ để đúng với tất cả các nước. Chính vì thế, khái niệm công vụ chỉ có thể mang tính tương đối. Thậm chí, ở nhiều Luan van 12 quốc gia, họ chỉ cho rằng những công việc do nhà nước thực hiện là công vụ, hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội khác là công việc riêng của họ, không liên quan đến công vụ.