phần mở đầu, kết luận, danh mục các ký hiệu từ viết tắt, phụ lục và tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận văn gồm 3 chƣơng: 12 z Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về văn hoá doanh nghiệp và tình hình xây dựng, phát triển VHDN của EVN. Chƣơng 2: Thực trạng xây dựng và phát triển văn hoá doanh nghiệp của Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dƣơng. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm xây dựng và phát triển VHDN ở Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dƣơng 13 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VÀ TÌNH HÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VHDN CỦA EVN 1.1 Văn hóa doanh nghiệp và vai trò của nó đối với sự phát triển của doanh nghiệp 1. Khái niệm về văn hoá doanh nghiệp (VHDN) Chƣa bao giờ khái niệm văn hoá lại đƣợc đề cập nhiều đến nhƣ vậy trong học thuật cũng nhƣ trong thực tế đời sống hiện nay.
Bởi nói tới văn hoá là nói tới ý thức, cái gốc tạo nên “tính ngƣời” cùng những gì thuộc về bản chất làm cho con ngƣời trở thành chủ thể năng động, sáng tạo trong cuộc sống, trong lao động sản xuất. Nói tới văn hoá còn là nói tới những nguồn nội lực để con ngƣời có thể sáng tạo, xây dựng và cải tạo cuộc sống của mình theo định hƣớng vƣơn tới những giá trị chân, thiện, mỹ. Đƣợc xem là nền tảng, vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển của con ngƣời và xã hội, văn hoá có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của mỗi cá nhân cũng nhƣ của toàn bộ cộng đồng. Nội lực của dân tộc trƣớc hết là mọi nguồn lực tập hợp từ vốn văn hoá truyền thống đã tích luỹ trong lịch sử của chính dân tộc mình.
Quan điểm của Đảng ta tại Đại hội XI là sự phát triển bền vững của đất nƣớc, xã hội nƣớc ta phải dựa vào thế “ba chân kiềng” có vai trò tƣơng đƣơng nhau là kinh tế, chính trị, văn hoá. Trên thế giới, bất kể quốc gia nào, tổ chức nào, giáo phái nào muốn trƣờng tồn thì phải có văn hóa riêng và doanh nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong điều kiện hội nhập, cạnh tranh trong một môi trƣờng ngày càng phẳng, văn hóa doanh nghiệp càng trở nên quan trọng. Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất.
Theo cách hiểu thông thƣờng thì văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ăn mặc, ăn uống, cƣ xử, đức tin và tri 14 z thức. Theo đó, có thể hiểu văn hóa doanh nghiệp nhƣ là các giá trị tinh thần, vật chất và tri thức… đƣợc xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, trở thành quan niệm, tập quán, truyền thống của doanh nghiệp đó. Văn hóa doanh nghiệp hiện nay đang là đề tài tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn của giới doanh nghiệp, các nhà quản lý và trên phƣơng tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, văn hóa doanh nghiệp là gì, thì không phải doanh nghiệp nào cũng thấu hiểu, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trên thế giới có một số định nghĩa văn hoá doanh nghiệp nhƣ sau: 1. Theo Georges de Saite Marie, chuyên gia Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ, "VHDN là tổng hợp các giá trị, các biểu tƣợng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kị các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp". Theo ILO, "VHDN là sự tổng hợp đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, các thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết".Schein, chuyên gia nghiên cứu các tổ chức, "VHDN (hay văn hoá công ty) là tổng hợp những quan niệm chung mà thành viên trong doanh nghiệp học đƣợc trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trƣờng xung quanh". Theo các tài liệu nghiên cứu và giảng dạy ở nƣớc ta, VHDN là trạng thái tinh thần và vật chất đặc sắc của một doanh nghiệp đƣợc tạo nên bởi hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một điều kiện lịch sử xã hội nhất định.
Schein - nhà xã hội học ngƣời Mỹ đƣa ra định nghĩa: "VHDN là tổng thể những thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thống nhất bên trong các nhân viên, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vấn đề cấp thiết trong hiện tại. Những quy tắc và những thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc các nhân viên lựa chọn phƣơng thức hành động, 15 z phân tích và ra quyết định thích hợp. VHDN là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phƣơng pháp tƣ duy đƣợc mọi thành viên của một tổ chức đồng thuận và có ảnh hƣởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên, đó là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học đƣợc trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trƣờng xung quanh. Điều đó có nghĩa là trong doanh nghiệp tất cả các thành viên đều gắn bó với nhau bởi những tiêu chí chung trong hoạt động kinh doanh.
Chức năng chủ yếu của VHDN là tạo nên sự thống nhất của mọi thành viên, trong doanh nghiệp. Ngoài ra, VHDN còn đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích tập thể với lợi ích cá nhân và giúp cho mỗi cá nhân thực hiện vai trò của mình theo đúng định hƣớng chung của doanh nghiệp. Nhìn chung, VHDN động viên nghị lực và ý chí của các thành viên trong doanh nghiệp và hƣớng tinh thần đó vào việc phấn đấu cho mục đích của doanh nghiệp.[10,tr20-22] Các khái niệm trên đều đã đề cập đến những nhân tố tinh thần của văn hoá doanh nghiệp nhƣ: Các quan niệm chung, các giá trị huyền thoại, nghi thức và cả các nhân tố vật chất … của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó văn hoá doanh nghiệp đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó’’.19] Cũng nhƣ văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp hay văn hoá công ty có những đặc trƣng cụ thể riêng biệt so với các loại hình tổ chức khác.
Trƣớc hết, văn hoá doanh nghiệp là sản phẩm của những ngƣời cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng yêu cầu phát triển tổ chức trị bền vững. Nó xác lập một hệ thống các giá trị đƣợc mọi ngƣời làm trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó. Văn hoá doanh nghiệp còn góp phần tạo nên sự 16 z khác biệt giữa các doanh nghiệp và đƣợc coi là truyền thống của riêng mỗi doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp đƣợc thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, từ dễ nhận biết đến ẩn sâu trong tiềm thức của tập thể mà phải qua thời gian dài mới hình dung ra đƣợc.
Cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp gồm 4 nhóm: nhóm yếu tố giá trị, nhóm yếu tố chuẩn mực, nhóm yếu tố không khí và phong cách quản lý của doanh nghiệp và nhóm yếu tố hữu hình. Trong đó, giá trị là thƣớc đo các hành xử, xác định những gì doanh nghiệp phải làm, xác định những gì doanh nghiệp cho là đúng. Giá trị ở đây gồm 2 loại. Loại thứ nhất là các giá trị đã tồn tại trong doanh nghiệp hình thành theo lịch sử, có thể do rèn luyện có chủ đích, có thể hình thành tự phát.
Loại thứ hai là các giá trị mới mà lãnh đạo mong muốn doanh nghiệp mình có để đáp ứng với tình hình mới và phải xây dựng từng bƣớc trong thời gian dài. Chuẩn mực là những quy định không thành văn nhƣng đƣợc mọi ngƣời tự giác tuân thủ. Cũng có thể xếp các yếu tố nghi lễ đƣợc sử dụng trong các sự kiện quan trọng của doanh nghiệp, logo. vào nhóm này.
Không khí có thể hiểu là các ngầm định về cung cách ứng xử hàng ngày của các thành viên trong tổ chức, có thể niềm nở hay nghiêm túc, vui đùa xuề xòa hay công thức, trang trọng, giữ khoảng cách hay thân mật, ăn nói thoải mái có phần bỗ bã hay hình thức hàn lâm…. Phong cách quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở thái độ và quyền lực của ngƣời quản lý trong việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Phong cách quản lý đƣợc thể hiện theo nhiều cách khác nhau nhƣ: độc đoán, dân chủ, cứng nhắc hay mềm dẻo. Cuối cùng nhóm yếu tố hữu hình là phần nổi dễ nhìn thấy nhƣ: bàn ghế, trang thiết bị, công nghệ, máy móc, nhà xƣởng, khẩu hiệu… hoặc các chuẩn mực hành vi nhƣ nghi lễ, nghi thức, các nguyên tắc, hệ thống thủ tục, chƣơng trình…[30].
Xây dựng VHDN là tạo lập một hệ thống VHDN với đầy đủ ba cấu phần trên tại DN. Còn việc Phát triển VHDN là việc hoàn thiện cấu trúc và đẩy mạnh hoạt động triển khai, áp dụng các nội dung của VHDN vào thực tế hoạt động của 17 z DN, thông qua quá trình đó tiếp tục hoàn thiện cấu trúc, nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của VHDN, thích ứng đƣợc với những biến động lớn của môi trƣờng kinh doanh. Xây dƣng và phát triển VHDN là cơ sở nền tảng và một nguồn lực lớn để DN nâng cao sức mạnh cạnh tranh và phát triển bền vững. Các nội dung này sẽ đƣơc trình bày ở mục dƣới đây.
Vai trò của văn hoá doanh nghiệp đối với hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp Quan điểm của các nhà nghiên cứu đều đánh giá rất cao vai trò của văn hóa doanh nghiệp đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động toàn diện của doanh nghiệp. Có thể khái quát vai trò của văn hóa doanh nghiệp ở một số điểm sau đây: 1. Văn hóa doanh nghiệp là tài sản tinh thần của doanh nghiệp, là một nguồn lực quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển bền vững. Có thể nói, văn hóa doanh nghiệp có vai trò lớn trong việc tạo lập vị thế của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp ngoài hoạt động kinh doanh, sản xuất vật chất, hàng hóa hoặc dịch vụ còn có một tài sản tinh thần to lớn – văn hóa doanh nghiệp.