CHƯƠNG I: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIỮ CHÂN NHÂN VIÊN 1. Khái niệm và vai trò của giữ chân nhân viên 1. Định nghĩa luân chuyển nhân sự Luân chuyển nhân sự xảy ra khi nhân viên rời bỏ công việc của họ và phải được thay thế. Theo trang Web từ điển thế giới định nghĩa luân chuyển nhân sự “là tỷ lệ số lượng công nhân phải được thay thế trong một khoảng thời gian trên trung bình số người lao động” (www.
Viện Nhân lực và Phát triển Chartered (2007) định nghĩa Luân chuyển nhân sự là “so sánh tỷ lệ số lượng nhân viên một tổ chức phải thay thế trong một khoảng thời gian nhất định trên trung bình tổng số nhân viên”. Abassi và Hollman (2000) định nghĩa rằng luân chuyển nhân sự là “sự luân chuyển nhân viên xung quanh các thị trường lao động, giữa các doanh nghiệp, và giữa các quốc gia về vấn đề việc làm và thất nghiệp”. Luân chuyển nhân sự, theo Iverson và Pullman (2000) có thể được phân loại là tự nguyện (có ý định rút lui) hoặc không tự nguyện (bao gồm sa thải và sa thải). Nghỉ việc tự nguyện thường dẫn đến việc nhân viên chuyển đi, trong nhiều trường hợp, để công ty cạnh tranh, tạo ra một tình huống quan trọng hơn kể từ khi kiến thức chuyển giao có thể được sử dụng để đạt được.
Định nghĩa giữ chân nhân viên Giữ chân nhân viên là một động thái mà các tổ chức/ công ty tạo ra một môi trường để các nhân viên tham gia lâu dài. Theo Chaminade (2007), mối quan hệ gắn bó này nên có độ bền và liên kết các nhân viên với tổ chức bởi các giá trị chung và bởi cách thức mà các tổ chức đáp ứng các nhu cầu của nhân viên. Mục đích chính của việc giữ chân nhân viên là để ngăn chặn sự tổn thất của nhân viên có năng lực của tổ chức/công ty, mà có thể có ảnh hưởng xấu đến năng suất và quá trình cung cấp dịch vụ. Ngoài ra, giữ chân nhân viên cho phép các nhà quản lý cấp cao và các nhà quản lý trực tiếp thu hút và duy trì hiệu quả các nhân viên có các kỹ năng quan trọng và năng suất lao động cao.
Điều này đạt được bằng cách cung cấp các nhà quản lý thông tin trên về HVTH: Hoàng Quốc Khánh Trang 4 MSHV CA110567 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐHBK Hà Nội chiến lược giữ chân nhân viên mà sẽ đảm bảo rằng các mục tiêu và mục đích của tổ chức/công ty được thực hiện. Tạo ra một chiến lược duy trì có nghĩa là đặt nhu cầu và mong đợi của nhân viên của tổ chức lên trên để đảm bảo sự hài lòng nghề nghiệp của người lao động và tạo ra một mối quan hệ đáng tin cậy. Trong mối quan hệ ổn định này, nhân viên ở lại bằng sự lựa chọn cá nhân dựa trên sự tự do và xem xét quyết định. Giữ chân nhân viên đóng góp một phần quan trọng vào thành công chung của tổ chức.
Nhân viên tài năng và có hiệu quả làm việc cao cần được khuyến khích ở lại tổ chức bằng cách thiết kế các chính sách duy trì mà sẽ cung cấp cho các nhân viên các cơ hội để họ chứng minh kỹ năng của mình và đảm bảo rằng chúng phù hợp với công việc. Cũng bàn về các chính sách giữ chân nhân viên, theo quan điểm của Nyoka (2006) bao gồm các chiến lược sẽ cho phép người lao động cân bằng nhu cầu giữa cuộc sống công việc của họ với cuộc sống gia đình của họ bằng cách thiết lập các chính sách gia đình thân thiện và cho phép sắp xếp công việc linh hoạt để phù hợp các vấn đề cá nhân cần thiết. Với chính sách duy trì tại chỗ hiệu quả như vậy, để các nhà quản lý có thể giữ cho vấn đề nhân viên nghỉ việc ở mức kiểm soát được. Điều này là bắt buộc đối với các tổ chức thông qua quá trình lao động, để thu hút nguồn nhân viên chất lượng cho tổ chức.
Tuy nhiên, thật quan trọng để các nhà quản lý ra các chính sách để giữ lại những nhân viên tài năng trong các tổ chức của họ tránh để cho nhà tuyển dụng được hưởng lợi từ việc đầu tư đã được thực hiện trong đó. Giữ chân nhân viên là một trong những vấn đề quan trọng nhất đối với các nhà quản lý tổ chức như một kết quả của sự tình trạng thiếu nhân lực có tay nghề cao, tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ nhân viên nghỉ việc. Phillips và Connell (2002) phát biểu rằng giữ chân nhân viên liên quan đến sự nhạy cảm về nhu cầu người lao động và thể hiện các chiến lược khác nhau trong việc đáp ứng những nhu cầu đó. Các chiến lược, theo Czakan (2005) bao gồm sự thăng tiến và phát triển trong nghề nghiệp, quyền lợi cạnh tranh bồi thường, cơ hội được đào tạo và hỗ trợ quản lý.
Ngoài các chiến lược đề cập ở trên, người quản lý lao động nên sử dụng cách tiếp cận linh hoạt để khuyến khích duy trì và phương pháp này nên xem xét một số thành phần giá trị gia tăng. Brown (2006) tranh luận rằng các chiến lược này bao gồm tư vấn/huấn luyện, cơ hội cho phát triển các kỹ năng và nghề nghiệp, cũng như sự linh hoạt xung quanh tần suất và HVTH: Hoàng Quốc Khánh Trang 5 MSHV CA110567 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐHBK Hà Nội kích thước của phần thưởng và ưu đãi. Toàn bộ quá trình giữ chân nhân viên là để đảm bảo rằng nhân viên ở lại trong các tổ chức, đặc biệt là người lao động có kỹ năng hay kinh nghiệm có giá trị hoặc cần thiết trong một lĩnh vực khan hiếm/ quan trọng (nơi tuyển dụng là khó khăn) lợi thế cạnh tranh. Nhân viên nghỉ việc gây tốn kém chi phí và là một mối quan tâm rất lớn để sử dụng lao động và cần phải tránh.
Tỷ lệ nhân viên nghỉ việc cao tượng trưng cho một gánh nặng đáng kể lên người quản lý nguồn nhân lực và quản lý trực tiếp, người mà liên tục phải tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới. Mối quan hệ giữa nguồn tuyển dụng, duy trì và luân chuyển nhân sự Giữ chân nhân viên xuất phát từ quá trình làm việc. Ba quá trình làm việc (Tuyển dụng, lựa chọn và vị trí) trước khi xác định hiệu quả của chiến lược duy trì. Để giữ chân nhân viên thành công, nó phải có sự liên kết tích cực giữa các quá trình và nghề nghiệp tuyển dụng và các nguồn mà từ đó ứng viên được tuyển dụng.
Nghiên cứu kinh nghiệm tuyển dụng cho thấy rằng nhân viên có các xu hướng rời bỏ công ty khác nhau tùy thuộc vào vị trí họ được tuyển dụng. Hai phương pháp tiếp cận khác nhau trong tuyển dụng là phương pháp “truyền thống” trong đó cho thấy rằng mục tiêu cuối cùng của tuyển dụng để thu hút một số lượng tối đa của người nộp đơn cho tổ chức tuyển dụng. Trong phương pháp truyền thống, cung cấp thông tin không đầy đủ hoặc thậm chí thiên vị về công việc và / hoặc các tổ chức có thể là một vấn đề có thể chấp nhận để đạt được mục tiêu này. Phương pháp khác là các cách tiếp cận “thực tế” điều này cho thấy “xem trước công việc thực tế”, theo đó nhà tuyển dụng cung cấp thông tin và trung thực về cả hai khía cạnh tiêu cực và tích cực của công việc và tổ chức.
Phương pháp truyền thống đã bị chỉ trích bởi các nhà nghiên cứu, người đưa ra giả thuyết rằng lợi ích của nó trong việc thu hút một lượng lớn số ứng cử viên có thể được nhiều hơn bởi những hậu quả tiêu cực của nó đối với sự lựa chọn và lưu giữ những ứng cử viên. Nhiều quản lý nhân sự thừa nhận rằng sự trình bày thực tế của công việc liên quan đến thông tin có thể dẫn đến một “thức tỉnh thô lỗ” khi nhân viên mới được tuyển dụng khám phá thực tế của công việc. Khoảng cách giữa những gì đã hứa trong thời gian tuyển dụng và kinh nghiệm làm việc trong những tuần và tháng đầu tiên của nhân viên trong công việc càng lớn, thì xu hướng rời bỏ càng cao. Kết quả là nhân viên mới được tuyển dụng sẽ bị thất vọng, không hài HVTH: Hoàng Quốc Khánh Trang 6 MSHV CA110567 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐHBK Hà Nội lòng, và không hiệu quả và cuối cùng họ có thể rời bỏ công việc nhanh chóng.
Tương tự như vậy, Lee (2006) đề xuất hai thuyết tuyển dụng trung gian khi chúng ảnh hưởng tỷ lệ nghỉ việc. Đây là “chủ nghĩa hiện thực” khi mà các ứng cử viên đi vào công việc và công việc phù hợp, tức là mức độ mà các nhân viên cảm thấy rằng công việc phù hợp với khả năng của mình. Lee (2006) cho rằng nếu nguồn tuyển dụng khác nhau có thể tìm thấy được công việc phù hợp. Một số lượng lớn các nghiên cứu thực nghiệm đã xác nhận rằng việc tuyển dụng thực tế không thực sự dẫn đến việc giảm tỷ lệ nghỉ việc.
Việc tuyển dụng thực tế không có nghĩa là nhà tuyển dụng cần trao đổi thông tin tích cực. Thật vậy, một sự kết hợp cả hai vấn đề “giảm” (tức là tiêu cực) và “nâng cao” (tức là tích cực) dường như là cách tốt nhất. Các nguồn tin dường như đóng một vai trò quan trọng trong việc rời bỏ của nhân viên. Thông tin nhận được từ công việc đương nhiệm được coi là đáng tin cậy hơn so với thông tin từ các nguồn khác.
Điều quan trọng là thuộc tính quan trọng để cung cấp thông tin thực tế về công việc và tổ chức, và đến mức độ này, các học viên nhân sự hoặc cơ quan tuyển dụng phải quen thuộc với các điều kiện làm việc trong các tổ chức mà họ đang tuyển dụng và các nhà tuyển dụng phải trung thực về các thông tin công việc liên quan đến họ cung cấp cho ứng viên khi phỏng vấn. Ví dụ, khi tuyển dụng ứng viên cho một tổ chức sản xuất, nhà tuyển dụng phải sẵn sàng để tiết lộ chi tiết về một số mối nguy hiểm có liên quan đến quá trình sản xuất như tai nạn công nghiệp, ô nhiễm môi trường làm việc, và bối cảnh công việc chung. Bối cảnh công việc chung có thể được đặc trưng bởi nhiều giờ làm việc, quy định hạn chế giờ làm thêm, và một số hạn chế về số ngày nghỉ. Thông tin này có thể hỗ trợ người xin việc để quyết định xem những điều kiện làm việc phù hợp với nguyện vọng nghề nghiệp của mình và giúp đưa ra quyết định của họ xử lý về việc có nên chấp nhận hoặc từ chối lời mời làm việc.