Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, vốn sản xuất kinh doanh là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp. Đối với ngành xây dựng cơ bản — một ngành sản xuất vật chất độc lập mang tính đặc thù cao — sản phẩm công trình thường có quy mô lớn, kết cấu kỹ thuật phức tạp, thời gian thi công kéo dài qua nhiều kỳ kế toán và chịu sự chi phối trực tiếp của cơ chế đấu thầu cũng như biến động giá cả vật liệu. Trong bối cảnh chuyển đổi cơ chế tự chủ tài chính, các doanh nghiệp xây lắp buộc phải kiểm soát chặt chẽ từng đồng vốn bỏ ra nhằm bù đắp chi phí, bảo toàn vốn và tạo nguồn tích lũy tái sản xuất mở rộng.
Công ty Cổ phần Xây dựng Tiến Đạt (trụ sở tại Thanh Hóa) hoạt động chính trong lĩnh vực thi công xây dựng dân dụng, cầu đường, thủy lợi và tư vấn thiết kế. Mặc dù quy mô sản xuất và số lượng công trình trúng thầu gia tăng qua các năm, công tác quản trị vốn lưu động tại doanh nghiệp vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập: cơ cấu vốn mất cân đối, vốn lưu động bị ứ đọng kéo dài trong chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, lượng tiền mặt dự trữ thấp và sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn chiếm dụng bên ngoài.
Để giải quyết các vấn đề trên, tác giả Nguyễn Thị Hải đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Kế toán tại Trường Đại học Lâm nghiệp (năm 2010) với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng Tiến Đạt trong giai đoạn 2007 – 2009.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý, chu chuyển và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại đơn vị.
- Đề xuất hệ thống giải pháp tài chính và kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn lưu động tại công ty trong các năm tiếp theo.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tình hình quản lý và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Xây dựng Tiến Đạt. Phạm vi không gian nghiên cứu được giới hạn trong toàn bộ hoạt động của công ty trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; phạm vi thời gian tập trung vào chuỗi số liệu tài chính - kế toán thực tế trong 3 năm liên tục từ năm 2007 đến năm 2009.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các nguyên lý quản trị tài chính doanh nghiệp và kế toán tài chính, kết hợp với các giáo trình chuyên ngành như Giáo trình Quản trị tài chính (Trần Ngọc Bình; Nguyễn Hải San), Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh (Phạm Thị Gái; Nguyễn Thị Mỵ - Phan Đức Dũng) và Giáo trình Lý thuyết kiểm toán (Nguyễn Viết Lợi & Đậu Ngọc Châu).
Về mặt khái niệm, tác giả xác định vốn sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình phục vụ kinh doanh; trong đó, vốn lưu động là số tiền ứng trước để mua sắm tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm duy trì chu kỳ tái sản xuất liên tục. Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất, chuyển dịch toàn bộ một lần giá trị vào sản phẩm và được thu hồi khi sản phẩm hoàn thành tiêu thụ. Khóa luận hệ thống hóa 4 tiêu thức phân loại vốn lưu động:
- Phân loại theo vai trò trong quá trình sản xuất kinh doanh: vốn trong khâu dự trữ sản xuất, vốn trong khâu sản xuất và vốn trong khâu lưu thông.
- Phân loại theo hình thái biểu hiện: vốn vật tư hàng hóa và vốn bằng tiền.
- Phân loại theo quan hệ sở hữu: vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả.
- Phân loại theo nguồn hình thành: nguồn vốn điều lệ, nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh - liên kết và nguồn vốn đi vay/chiếm dụng.
Về phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động, khóa luận trình bày hai hướng tiếp cận: phương pháp trực tiếp (tính toán chi tiết theo từng khâu dự trữ, sản xuất dở dang, chi phí chờ kết chuyển và lưu thông) và phương pháp gián tiếp/điều chỉnh (dựa trên mức luân chuyển vốn năm báo cáo, nhiệm vụ sản xuất năm kế hoạch và tỷ lệ tăng giảm số ngày luân chuyển dự kiến). Hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả chu chuyển vốn gồm có: số vòng quay vốn lưu động ($L = DTT / V_{LĐ}$ bình quân), kỳ luân chuyển vốn lưu động ($K = 360 / L$), hệ số đảm nhiệm vốn lưu động ($H = V_{LĐ} / DTT$), sức sản xuất của vốn lưu động, sức sinh lời của vốn lưu động, các hệ số khả năng thanh toán hiện thời/tức thời, cùng mức tiết kiệm vốn lưu động tuyệt đối và tương đối.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai đồng bộ qua hai kênh dữ liệu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn Ban Giám đốc công ty, kết hợp quan sát và khảo sát thực tế tại các công trường đang thi công của doanh nghiệp (tiêu biểu là công trường Trường THCS xã Hoằng Khánh và Trường Mầm non xã Hoằng Trì, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa).
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Trích xuất số liệu trực tiếp từ Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, Bảng cân đối kế toán 3 năm (2007 – 2009), Bảng tính khấu hao tài sản cố định và Bảng tính lương lưu trữ tại Phòng Kế toán và Phòng Tổ chức - Hành chính của công ty.
- Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Áp dụng phương pháp phân tổ thống kê, phương pháp so sánh tuyệt đối ($\Delta Y = Y_i - Y_{i-1}$), phương pháp so sánh liên hoàn/tương đối ($i_y = (Y_i / Y_{i-1}) \times 100$), phương pháp tính tốc độ phát triển bình quân ($\bar{t} = \sqrt[n-1]{\prod t_{LH}}$), phương pháp xác định tỷ trọng cơ cấu và phương pháp cân đối mối quan hệ giữa các khoản mục tài sản - nguồn vốn trên Bảng cân đối kế toán để xác định tình trạng thừa/thiếu vốn.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Tác giả xác định rõ sự cần thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu tự chủ tài chính trong điều kiện đấu thầu xây dựng cơ bản. Chương này thiết lập hệ thống 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, xác định đối tượng là công tác quản lý và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Xây dựng Tiến Đạt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian 2007 – 2009. Đồng thời, chương trình bày chi tiết khung phương pháp luận thu thập số liệu sơ cấp (khảo sát công trường tại huyện Hoằng Hóa), thu thập số liệu thứ cấp nội bộ và các công thức toán thống kê dùng để phân tích biến động, tốc độ tăng trưởng liên hoàn và tỷ trọng cơ cấu.
Phần 2: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu
Chương này đóng vai trò hệ thống hóa lý luận cơ bản về vốn sản xuất kinh doanh và vốn lưu động trong doanh nghiệp. Nội dung tập trung phân tích các đặc điểm kinh tế của vốn lưu động (chu chuyển giá trị một lần, tốc độ chu chuyển gắn liền với hiệu quả sử dụng chi phí), phân loại vốn lưu động theo 4 tiêu thức quản lý, và chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động từ góc độ cung ứng vật tư, chu kỳ kỹ thuật thi công xây lắp và phương thức thanh toán. Tác giả cũng thiết lập các công thức xác định nhu cầu vốn lưu động theo phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp, các công thức đo lường tốc độ chu chuyển, mức tiết kiệm vốn và phân tích sự cần thiết khách quan của việc bảo toàn vốn lưu động trước rủi ro lạm phát và trượt giá nguyên vật liệu.
Phần 3: Đặc điểm cơ bản về Công ty Cổ phần Xây dựng Tiến Đạt - Thanh Hóa
Chương này phác thảo toàn diện quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp:
- Quá trình phát triển: Tiền thân thành lập từ năm 2001 với vốn chủ sở hữu ban đầu 750 triệu đồng; đến năm 2008 công ty thực hiện tăng vốn điều lệ lên 2.000.000 ngàn đồng. Đến năm 2009, doanh nghiệp đã thực hiện thi công 217 công trình lớn nhỏ. Giám đốc là ông Nguyễn Vũ Tiến, trụ sở đặt tại 127 Dương Đình Nghệ, phường Tân Sơn, thành phố Thanh Hóa.
- Tổ chức nhân sự: Tổng số lao động năm 2009 là 173 người, trong đó lao động trực tiếp chiếm 83,82% (145 người) và lao động gián tiếp chiếm 16,18% (28 người). Về trình độ: Đại học chiếm 8,67% (15 người), Cao đẳng chiếm 25,43% (44 người), Trung cấp chiếm 29,48% (51 người), Phổ thông chiếm 36,42% (63 người). Tỷ lệ giữa lao động gián tiếp và trực tiếp thực tế là 1:5, chưa đạt định mức mục tiêu của công ty là 1:15.
- Cơ sở vật chất: Tổng nguyên giá tài sản cố định năm 2009 đạt 3.344.000 ngàn đồng, tỷ lệ giá trị còn lại bình quân đạt 86,90%. Doanh nghiệp đã đầu tư thêm phương tiện vận tải (mua mới 2 xe tải trị giá 986.999 ngàn đồng) giúp giảm chi phí thuê xe, nhưng máy móc thiết bị thi công trực tiếp vẫn thiếu hụt, buộc công ty phải chi 1.915.000 ngàn đồng để thuê ngoài trong năm 2009.
- Đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh: Về hiện vật, số lượng công trình tăng từ 20 công trình (2007) lên 25 công trình (2008) và đạt 32 công trình (2009), với tốc độ phát triển bình quân 126,49%/năm (trong đó công trình xây dựng dân dụng luôn chiếm trên 50%). Về giá trị, kết quả tài chính tổng hợp được thể hiện qua bảng sau:
| Chỉ tiêu (Đơn vị: 1.000 đồng) |
Năm 2007 |
Năm 2008 |
Năm 2009 |
TĐPTLH 2008/2007 (%) |
TĐPTLH 2009/2008 (%) |
TĐPTBQ (%) |
| 1. Tổng doanh thu thuần |
2.908.965 |
6.388.112 |
10.738.942 |
219,60 |
168,11 |
192,14 |
| 2. Giá vốn hàng bán |
2.535.989 |
5.531.018 |
8.949.835 |
218,10 |
161,81 |
188,95 |
| 3. Lợi nhuận gộp |
372.976 |
857.094 |
1.789.107 |
229,80 |
208,74 |
219,01 |
| 4. Chi phí quản lý doanh nghiệp |
325.711 |
686.195 |
1.341.229 |
210,68 |
195,46 |
205,35 |
| 5. Lợi nhuận trước thuế |
35.965 |
128.867 |
131.664 |
358,31 |
102,17 |
190,35 |
| 6. Lợi nhuận sau thuế TNDN |
25.895 |
95.690 |
98.748 |
369,53 |
103,20 |
195,25 |
Phần 4: Thực trạng sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty CPXD Tiến Đạt - Thanh Hóa
Nội dung chương 4 tập trung vào việc bóc tách số liệu kế toán chi tiết:
- Cơ cấu tài sản và nguồn vốn: Tổng tài sản tăng từ 2.550.999 ngàn đồng (2007) lên 4.095.388 ngàn đồng (2008) và đạt 14.267.338 ngàn đồng (2009). Tài sản lưu động luôn chiếm tỷ trọng áp đảo (84,41% năm 2007; 80,53% năm 2009). Tuy nhiên, cơ cấu nguồn vốn bộc lộ rủi ro mất cân đối nghiêm trọng: Nợ phải trả tăng phi mã với tốc độ phát triển bình quân 267,97%/năm, đạt 12.121.245 ngàn đồng năm 2009 (chiếm 84,96% tổng nguồn vốn), trong đó nợ ngắn hạn chiếm 83,96%. Vốn chủ sở hữu năm 2009 đạt 2.146.093 ngàn đồng nhưng tỷ trọng sụt giảm xuống mức 15,04%.
- Tự chủ tài chính và công nợ: Tỷ suất tài trợ ($NVCSH / Tổng nguồn vốn$) biến động bất lợi: đạt 31,53% (2007), tăng lên 44,10% (2008) rồi sụt giảm xuống còn 15,05% (2009). Doanh nghiệp phụ thuộc từ 55% đến 85% vào vốn bên ngoài, chủ yếu là vốn chiếm dụng từ khách hàng ứng trước tiền (năm 2009 đạt 8.697.000 ngàn đồng) và vay nợ ngắn hạn. Hệ số thu/trả công nợ giảm từ 0,010 (2007) xuống 0,003 (2008) và về mức 0 vào năm 2009 do không còn khoản phải thu ngắn hạn trong khi nợ phải trả rất lớn.
- Khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông: Doanh nghiệp không duy trì kho nguyên vật liệu tập trung mà xuất thẳng đến công trường, dẫn đến rủi ro lớn khi giá vật liệu xây dựng (thép, xi măng) tăng vọt. Vốn lưu động bị đọng chủ yếu ở khâu sản xuất: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang năm 2009 lên tới 11.033.000 ngàn đồng (chiếm 96,77% vốn khâu sản xuất dự trữ). Ngược lại, vốn bằng tiền chiếm tỷ trọng cực kỳ thấp trong tổng vốn lưu động (dao động từ 0,22% đến 2,5%), gây rủi ro mất khả năng thanh toán tức thời.
- Chu chuyển và hiệu quả sử dụng vốn lưu động: Các chỉ tiêu chu chuyển và sinh lời được tổng hợp tại bảng dưới đây:
| Chỉ tiêu phân tích |
Năm 2007 |
Năm 2008 |
Năm 2009 |
TĐPTLH 2008/2007 (%) |
TĐPTLH 2009/2008 (%) |
TĐPTBQ (%) |
| Vốn lưu động bình quân (1.000 đ) |
1.919.286 |
2.738.747 |
7.375.839 |
142,69 |
269,32 |
196,05 |
| Số vòng quay vốn lưu động (vòng) |
1,516 |
2,333 |
1,456 |
153,89 |
62,41 |
98,00 |
| Kỳ luân chuyển vốn lưu động (ngày) |
237,51 |
154,39 |
247,27 |
65,00 |
160,16 |
102,04 |
| Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động |
0,660 |
0,429 |
0,687 |
65,00 |
160,14 |
102,04 |
| Sức sản xuất của VLĐ (đồng) |
1,516 |
2,331 |
1,456 |
153,76 |
62,46 |
98,00 |
| Sức sinh lời của VLĐ (đồng) |
0,019 |
0,029 |
0,017 |
152,63 |
58,62 |
94,60 |
Năm 2008, công ty tiết kiệm tuyệt đối được 1.443.000 ngàn đồng vốn lưu động nhờ rút ngắn kỳ luân chuyển xuống 154,39 ngày. Tuy nhiên sang năm 2009, do thi công cầm chừng trước bão giá vật liệu, kỳ luân chuyển kéo dài lên 247,27 ngày khiến vòng quay vốn suy giảm (1,456 vòng) và làm lãng phí vốn lưu động.
- Cân đối thừa thiếu vốn và xác định nhu cầu năm 2010: Phân tích bảng cân đối kế toán cho thấy năm 2007 và 2008 công ty ở trạng thái thừa vốn ($VT > VP$), bị đơn vị khác chiếm dụng; sang năm 2009 chuyển sang thiếu hụt vốn nghiêm trọng ($VT < VP$), phải đi chiếm dụng vốn bên ngoài. Bằng phương pháp gián tiếp, với mục tiêu doanh thu năm 2010 là 22.000.000 ngàn đồng và phấn đấu rút ngắn kỳ luân chuyển về 210 ngày (tỷ lệ rút ngắn $t% = 17,76%$), tác giả xác định nhu cầu vốn lưu động năm 2010 là 12.966.000 ngàn đồng. Đối chiếu với số vốn lưu động thực có đầu kỳ (11.000.000 ngàn đồng), công ty thiếu hụt 1.966.000 ngàn đồng cần phải huy động bổ sung.
Phần 5: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty
Trên cơ sở tổng kết ưu điểm và tồn tại, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp chung: Tiết kiệm chi phí thông qua giảm thời gian gián đoạn kỹ thuật; thanh lý tài sản cố định hết khấu hao và đổi mới máy móc công suất lớn; nâng cao tính chuyên nghiệp để trúng thầu dự án vừa sức; chủ động thiết lập quan hệ tín dụng với ngân hàng để vay vốn dự trữ vật tư; định kỳ kiểm kê, đối chiếu công nợ và lập kế hoạch thu chi dòng tiền mặt.
- Nhóm giải pháp cụ thể:
- Rút ngắn thời gian thi công để giải phóng vốn dở dang: Áp dụng công nghệ thi công hiện đại như tấm sàn bê tông nhẹ lắp ghép nhanh, tấm panel tường đúc sẵn, sử dụng phụ gia đông kết nhanh cho bê tông, đặc biệt là ứng dụng công nghệ bê tông đầm lăn trong thi công đập và mặt đường (giúp giảm lượng xi măng, chống nứt nhiệt và rút ngắn tiến độ gấp 2 lần). Đồng thời tuyển dụng bổ sung lao động trực tiếp để đạt tỷ lệ định mức 1 gián tiếp / 15 trực tiếp.
- Chủ động huy động và điều phối nguồn vốn: Giảm dần tỷ trọng vay ngắn hạn, tăng cường phát hành cổ phần hoặc huy động vốn từ cán bộ công nhân viên nội bộ nhằm phát huy nội lực, gắn kết người lao động và giảm chi phí sử dụng vốn.
- Đổi mới phương thức thanh toán thu hồi công nợ: Đàm phán ký kết hợp đồng kinh tế theo hướng nghiệm thu và thanh quyết toán theo từng hạng mục công trình hoàn thành, thay vì chờ đến khi hoàn thành toàn bộ công trình mới quyết toán.
- Kiểm soát cung ứng và dự trữ vật liệu: Ký hợp đồng nguyên tắc cung cấp vật liệu xây dựng dài hạn với các nhà cung cấp uy tín nhằm giữ giá ổn định, tránh đứt gãy nguồn cung; rà soát hồ sơ thiết kế để ưu tiên sử dụng vật liệu địa phương sẵn có, có thể thay thế được.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã phản ánh trung thực bức tranh tài chính và công tác quản trị vốn lưu động tại một doanh nghiệp xây lắp cấp địa phương trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2007 – 2009:
- Bóc tách hệ thống dữ liệu thực nghiệm: Minh chứng sự tăng trưởng nhanh về doanh thu thuần (đạt 10.738.942 ngàn đồng năm 2009, tăng trưởng bình quân 192,14%/năm) và lợi nhuận trước thuế (131.664 ngàn đồng năm 2009, tăng trưởng bình quân 190,35%/năm). Đi liền với đó, tác giả đã chỉ ra sự suy giảm về chất lượng tài chính: tỷ suất tự tài trợ giảm từ 44,10% xuống 15,05%; hệ số thanh toán nhanh bị đe dọa do tiền mặt chỉ chiếm từ 0,22% đến 2,5% tổng vốn lưu động.
- Phát hiện các điểm nghẽn quản trị: Khóa luận chỉ rõ nguyên nhân cốt lõi khiến kỳ luân chuyển vốn năm 2009 kéo dài lên 247,27 ngày là do chi phí sản xuất kinh doanh dở dang chiếm tới 96,77% vốn khâu sản xuất, cùng với việc doanh nghiệp không có kho dự trữ nguyên vật liệu dẫn đến bị động khi thị trường thép tăng giá từ 8 triệu đồng/tấn lên 13 triệu đồng/tấn (năm 2007).
- Đề xuất giải pháp có tính liên ngành: Khác với các nghiên cứu kế toán thuần túy chỉ tập trung vào số liệu sổ sách, tác giả đã gắn kết giải pháp tài chính với giải pháp kỹ thuật xây dựng công trình, tiêu biểu là đề xuất sử dụng công nghệ bê tông đầm lăn, tấm sàn bê tông nhẹ đúc sẵn, phụ gia đông kết nhanh và điều chỉnh cơ cấu tổ chức lao động theo định mức 1 gián tiếp / 15 trực tiếp.
- Đóng góp thực tiễn cho doanh nghiệp: Dự báo định lượng chính xác nhu cầu vốn lưu động năm 2010 của Công ty Cổ phần Xây dựng Tiến Đạt thiếu hụt 1.966.000 ngàn đồng, đặt ra căn cứ số liệu rõ ràng để Ban Giám đốc xây dựng phương án huy động vốn chủ động.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi dữ liệu và điều kiện thực hiện:
- Dữ liệu nghiên cứu giới hạn trong chuỗi thời gian 3 năm (2007 – 2009) tại một doanh nghiệp xây lắp đơn lẻ, chịu ảnh hưởng mang tính thời điểm của chu kỳ biến động giá vật liệu xây dựng và giai đoạn mở rộng đô thị hóa tại Thanh Hóa.
- Các phương pháp phân tích chủ yếu dừng lại ở thống kê mô tả, so sánh liên hoàn và phân tích tỷ số tài chính tĩnh, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng phân tích độ nhạy của chi phí sử dụng vốn trước biến động của lãi suất vay ngân hàng.
- Về hướng mở rộng: Các nghiên cứu tiếp theo có thể đi sâu hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị chi phí xây lắp theo từng công trình độc lập; nghiên cứu xây dựng hạn mức tín dụng thương mại cho từng nhóm đối tượng khách hàng; và phân tích dòng tiền chiết khấu để kiểm soát rủi ro thanh khoản chi tiết hơn.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán, Tài chính doanh nghiệp: Tài liệu là một nghiên cứu tình huống điển hình về quy trình phân tích tài chính vốn lưu động trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản. Các phần đáng tham khảo nhất là: phương pháp bóc tách cơ cấu vốn lưu động theo khâu dự trữ - sản xuất - lưu thông, kỹ thuật phân tích cân đối thừa/thiếu vốn từ quan hệ giữa các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán, và phương pháp gián tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch.
- Cán bộ quản lý tài chính và kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp vừa và nhỏ: Cung cấp góc nhìn thực tế về rủi ro chiếm dụng vốn và sự nguy hiểm khi phụ thuộc quá mức vào tiền ứng trước của khách hàng; đồng thời gợi mở phương án đàm phán hợp đồng thanh toán theo hạng mục nghiệm thu thay vì theo toàn bộ công trình.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ suất tài trợ của Công ty CPXD Tiến Đạt biến động như thế nào trong giai đoạn 2007 – 2009 và phản ánh điều gì?
Tỷ suất tài trợ của công ty đạt 31,53% vào năm 2007, tăng lên 44,10% vào năm 2008 (nhờ tăng vốn điều lệ lên 2.000.000 ngàn đồng và bổ sung lợi nhuận chưa phân phối), nhưng sau đó sụt giảm nghiêm trọng xuống mức 15,05% vào năm 2009. Thực tế này phản ánh mức độ tự chủ tài chính của công ty ngày càng kém, doanh nghiệp phải dựa tới gần 85% vào nguồn vốn chiếm dụng và nợ vay bên ngoài để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
2. Nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến sự suy giảm vòng quay vốn lưu động của công ty trong năm 2009?
Số vòng quay vốn lưu động năm 2009 giảm xuống mức 1,456 vòng/năm (kỳ luân chuyển kéo dài lên 247,27 ngày). Nguyên nhân là do giá vật liệu xây dựng tăng cao khiến một số công trình phải thi công cầm chừng, dẫn đến giá trị sản phẩm xây dựng dở dang cuối năm 2009 tồn đọng quá lớn (đạt 11.033.000 ngàn đồng, chiếm 96,77% vốn khâu sản xuất dự trữ), không thể nghiệm thu và thanh quyết toán với chủ đầu tư.
3. Tỷ trọng tiền mặt của công ty trong tổng vốn lưu động duy trì ở mức bao nhiêu và gây ra rủi ro gì?
Tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền trong tổng vốn lưu động của công ty duy trì ở mức rất thấp, chỉ dao động từ 0,22% đến 2,5% (năm 2008 chỉ đạt 10.360 ngàn đồng). Tình trạng này khiến công ty gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản chi phí phát sinh hàng ngày, thanh toán ngay cho nhà cung ứng vật tư và làm suy giảm khả năng thanh toán tức thời khi các khoản nợ ngắn hạn đến hạn.
4. Khóa luận dự báo công ty thừa hay thiếu bao nhiêu vốn lưu động trong năm 2010 và căn cứ vào đâu?
Sử dụng phương pháp điều chỉnh luân chuyển (gián tiếp) với kế hoạch doanh thu năm 2010 đạt 22.000.000 ngàn đồng và phấn đấu rút ngắn kỳ luân chuyển xuống 210 ngày, tác giả tính toán nhu cầu vốn lưu động năm 2010 là 12.966.000 ngàn đồng. So với số vốn lưu động thực có đầu kỳ là 11.000.000 ngàn đồng, công ty thiếu hụt 1.966.000 ngàn đồng và bắt buộc phải tìm giải pháp huy động bổ sung.
5. Tác giả đề xuất những giải pháp kỹ thuật cụ thể nào để rút ngắn thời gian thi công nhằm giải phóng vốn dở dang?
Tác giả đề xuất đưa vào ứng dụng các công nghệ thi công hiện đại gồm: sử dụng tấm sàn bê tông nhẹ đúc sẵn, tấm panel tường lắp ghép nhanh, phụ gia đông kết nhanh cho bê tông, và đặc biệt là công nghệ bê tông đầm lăn áp dụng cho các công trình đập và mặt đường (giúp rút ngắn thời gian đưa công trình vào sử dụng nhanh gấp 2 lần so với bê tông thông thường, đồng thời tiết kiệm xi măng và giảm nguy cơ nứt khối).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hải là một công trình nghiên cứu thực nghiệm nghiêm túc, bám sát các số liệu kế toán thực tế của Công ty Cổ phần Xây dựng Tiến Đạt trong giai đoạn 2007 – 2009. Nghiên cứu đã làm rõ mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng doanh thu với tình trạng suy giảm tính tự chủ tài chính và ứ đọng vốn lưu động trong sản xuất dở dang tại một doanh nghiệp xây lắp địa phương. Hệ thống giải pháp đề xuất có sự kết hợp chặt chẽ giữa quản trị tài chính doanh nghiệp và cải tiến kỹ thuật thi công, mang lại giá trị tham khảo hữu ích cho công tác quản lý vốn lưu động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.