Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG TRƯỜNG, LÂM TRƯỜNG 1. Những vấn đề lý luận về quản lý và sử dụng đất nông trường, lâm trường 1. Khái niệm chung về đất Thuở sơ khai của loài người, đất đã được coi là tiền đề của tự nhiên, là điều kiện ban đầu của sự sống. Nhà sử học, nhà địa chí nổi tiếng Phan Huy Chú (1782-1849) vào thế kỷ XIX đã viết: “Của báu một nước không gì quý bằng đất đai, nhân dân và của cải đều do đấy mà sinh ra”.
Từ bao đời nay, đất đai luôn là cái nôi để nuôi dưỡng sự sống của con người, là nơi ăn chốn ở, điều kiện để sinh tồn, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng không gì thay thế được trong sản xuất nông, lâm nghiệp. Với tổng diện tích hơn 330.000 km2, ở Việt Nam đất đai được chia làm nhiều loại căn cứ theo mục đích sử dụng, đất nông nghiệp là một loại đất nằm trong vốn đất đai thống nhất của quốc gia. Theo nghĩa thổ nhưỡng, đất là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình, thờigian. Giá trị tài nguyên đất được đánh giá bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì nhiêu, màu mỡ.
Với ý nghĩa là một nhân tố sinh thái, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biến đổi của đất do các hoạt động của con người. Về mặt đời sống - xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông - lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng. Trong kinh tế học, đất bao gồm tất cả các tài nguyên có nguồn gốc tự nhiên, chẳng hạn như vị trí địa lý của khu vực đất đai, các tài nguyên khoáng 6 sản dưới lòng đất, và thậm chí các thành phần của phổ điện từ.
Trong kinh tế học cổ điển nó được coi là một trong các yếu tố sản xuất, các yếu tố khác là tư bản và sức lao động. Quản lý đất đai Quản lý đất đai là quá trình đảm bảo theo luật pháp cho việc sử dụng, phát triển quỹ đất, khai thác lợi nhuận thu được từ đất và giải quyết các vấn đề tranh chấp liên quan đến đất đai. Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, hoặc thu thuế…) và giải quyết những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và QSDĐ. Đối tượng quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tượng đất công và đất tư bao gồm các công việc: đo đạc đất đai, đăng ký đất đai, định giá đất đai, giám sát sử dụng, lưu giữ và cung cấp các thông tin về đất đai.
Quản lý đất đai là quá trình điều tra, mô tả những tài liệu về đất, xác định, điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, lưu trữ, cập nhật và cung cấp thông tin liên quan đến đất (ví dụ như liên quan đến quyền sở hữu, giá trị, quá trình sử dụng và các nguồn thông tin khác liên quan), quản lý đất đai liên quan trực tiếp đến quyền sở hữu đất đai của các thế hệ hiện tại và tương lai. Nó bao gồm các quyết định thực hiện thường xuyên được thực hiện mỗi ngày bởi các nhà quản lý đất đai. Nhà nước thực hiện công tác quản lý đất đai thông qua Hiến pháp, Luật đất đai và các Luật khác có liên quan đến đất đai. Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nước xác định một số nội dung chủ yếu như: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước tập trung và phân cấp quản lý; vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; vai trò của lĩnh vực công và tư; quản lý các tài liệu địa chính; quản lý nguồn nhân lực; giáo dục, đào tạo và nghiên cứu….
Theo quy định của Luật đất đai 20132, Nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm: - Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. Điều 22 Luật Đất đai năm 2013. 7 - Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. - Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. - Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. - Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thống kê, kiểm kê đất đai. - Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. - Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. - Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. - Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai. - Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai. - Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai 1.
Quản lý đất nông trường, lâm trường Ở Việt Nam, sự hình thành của các nông, lâm trường được đánh dấu từ sau hòa bình lập lại ở Miền Bắc - năm 1955, cụ thể là các nông, lâm trường quốc doanh. Cùng với việc hình thành các nông trường, lâm trường, Nhà nước giao quyền quản lý đất đai cho các nông trường, lâm trường để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng chung. Vấn đề quản lý đất nông trường, lâm trường về cơ bản bao gồm đầy đủ các nội dung quản lý nhà nước chung về đất đai, tuy nhiên nó hướng tới một lĩnh vực cụ thể hơn. Quá trình phát triển của nông, lâm trường trải qua nhiều giai đoạn, gắn với các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Giai đoạn 8 1955-1975, nhiệm vụ chủ yếu của nông, lâm trường là khai hoang, phục hóa đất đai, trồng rừng và phát triển kinh tế theo mô hình tập trung, tập thể3. Giai đoạn 1976-1986, nông, lâm trường được hình thành, phân bố rộng khắp cả nước, với 870 đơn vị4. Nhà nước giao cho các nông, lâm trường quản lý 7,5 triệu ha đất, bằng 23,2% diện tích tự nhiên của cả nước (trong đó 457 nông trường với 1,2 triệu ha; 413 lâm trường với 6,3 triệu ha). Giai đoạn 1987- 2003, các nông, lâm trường quốc doanh thực hiện đăng ký, sắp xếp, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo Nghị định 388/1991/HĐBT.
Theo báo cáo giám sát kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 - 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Giai đoạn 2004 - 2014, là giai đoạn thực hiện Nghị quyết 28/NQ-TW của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh. Năm 2005, cả nước có 444 nông, lâm trường (186 nông trường, 256 lâm trường và 02 trung tâm nông - lâm nghiệp). Đến cuối năm 2012, còn 387 nông, lâm trường (145 nông trường, 151 lâm trường, 91 ban quản lý rừng), giải thể 38 đơn vị. Đến tháng 12 năm 2012, tính cả 266 đơn vị, tổ chức không thuộc diện thực hiện sắp xếp theo Nghị quyết 28-NQ/TW, cả nước có 653 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên (200 công ty nông nghiệp, 164 công ty lâm nghiệp, 210 ban quản lý rừng, 79 vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên), được Nhà nước giao quản lý, sử dụng 7.
Năm 1960, cả Miền Bắc có 56 nông trường và tập đoàn sản xuất (29 nông trường quân đội, 18 nông trường quốc doanh và 9 tập đoàn sản xuất) do Bộ Nông trường trực tiếp quản lý. - Tính đến cuối năm 1970, các tỉnh Miền Bắc đã thành lập gần 200 lâm trường quốc doanh. - Năm 1975, toàn miền Bắc có 115 nông trường quốc doanh (trung ương quản lý 53 nông trường, địa phương quản lý 62 nông trường). Sau ngày giải phóng Miền Nam, Nhà nước điều động trên 3.000 cán bộ từ các nông trường và 20 vạn lao động các tỉnh, thành phố Miền Bắc vào tiếp nhận và mở rộng 120 đồn điền cao su, cà phê ở các tỉnh vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, thành lập hàng trăm lâm trường ở các tỉnh phía Nam.
Năm 1982, Nhà nước chuyển một số đơn vị quân đội sang xây dựng kinh tế như Đoàn 331, 332, 333, 359 ở Tây Nguyên, Đoàn 600 ở Đông Nam bộ và một số Trung đoàn Tây Nam Bộ và Tây Nguyên. - Năm 1986, cả nước có 457 nông trường quốc doanh (228 nông trường do Trung ương quản lý và 229 nông trường do địa phương quản lý). Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) quản lý 92 đơn vị; Bộ Lâm nghiệp quản lý 76 đơn vị; Bộ Quốc phòng quản lý 12 đơn vị; Tổng cục Cao su quản lý 124 đơn vị; các địa phương quản lý 566 đơn vị. 9 Thực hiện Nghị quyết 30-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp, đến tháng 12 năm 2014, các công ty nông, lâm nghiệp đã bàn giao về cho địa phương 80.468 ha, tổng diện tích đất do các công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên quản lý còn 7.