Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng phân luồng giáo dục tại Việt Nam đang đối mặt với bài toán mất cân đối nghiêm trọng khi tâm lý chuộng bằng cấp vẫn chi phối đại bộ phận xã hội. Theo Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu đặt ra là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải tiếp nhận 30% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 70%. Tuy nhiên, trên bình diện thực tế tại tỉnh Phú Thọ, hàng năm có khoảng 21.000 học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở nhưng có tới 80% tiếp tục vào trung học phổ thông, chỉ có khoảng 5% vào học nghề và khoảng 10% (tương đương 200 học sinh) phải tham gia thị trường lao động phổ thông chưa qua đào tạo.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài tập trung vào việc giải quyết tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ", khắc phục những bất cập trong công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh lớp 9. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp tại 24 trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2014 - 2016, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp quản lý khả thi nhằm thúc đẩy phân luồng học sinh sau tốt nghiệp.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp nâng cao tỷ lệ học sinh tham gia học nghề lên mức 25% - 30%, đồng thời cắt giảm tỷ lệ khoảng 600 học sinh bỏ học hoặc lao động sớm mỗi năm trên địa bàn toàn tỉnh Phú Thọ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quản lý tổ chức cổ điển và hiện đại của các học giả thế giới như Henri Fayol, Max Weber, Harold Koontz và Stephen Robbins, tiếp cận quản lý như một quá trình liên tục thực hiện 4 chức năng cốt lõi: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra giám sát. Luận văn kế thừa quan điểm của Karl Marx: "Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" để làm sáng tỏ vai trò điều phối của chủ thể quản lý giáo dục.

Bên cạnh đó, đề tài xây dựng mô hình "Miền chọn nghề tối ưu" dựa trên sự giao thoa đồng thời của 3 yếu tố nền tảng: Xu hướng (hứng thú cá nhân), Năng lực (khả năng, phẩm chất tâm sinh lý) và Nhu cầu (yêu cầu của thị trường lao động xã hội). Quá trình phân luồng học sinh sau trung học cơ sở được phân định cụ thể thành 4 luồng: giáo dục phổ thông (luồng chính), giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp và tham gia lao động sản xuất (các luồng phụ). Nghiên cứu khẳng định tư vấn hướng nghiệp là hoạt động tương tác hai chiều nhằm điều chỉnh động cơ chọn nghề, giúp học sinh lựa chọn luồng phát triển phù hợp với năng lực bản thân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên để đảm bảo tính đại diện cho các trường trung học cơ sở khu vực nội thành và ven đô thị. Cỡ mẫu khảo sát thực tiễn bao gồm 1.789 học sinh lớp 9 tại 21 trường trung học cơ sở, 76 giáo viên chủ nhiệm lớp 9 tại 24 trường trung học cơ sở, cùng 31 giáo viên và 21 cán bộ quản lý giáo dục trên địa bàn thành phố Việt Trì. Việc lựa chọn cỡ mẫu quy mô lớn này nhằm phản ánh chính xác cấu trúc xã hội học và tâm lý học đường của lứa tuổi học sinh cuối cấp trung học cơ sở.

Phương pháp nghiên cứu lý luận được áp dụng để phân tích các văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định số 126-CP ngày 19/03/1981 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Phương pháp điều tra thực tiễn sử dụng phiếu hỏi trắc nghiệm tâm lý nghề nghiệp, phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và tổng hợp thống kê toán học để xử lý dữ liệu định lượng thu thập trong năm học 2014 - 2015 và 2015 - 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra khảo sát thực chứng tại các trường trung học cơ sở thành phố Việt Trì đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

  • Sự mất cân đối nghiêm trọng trong phân luồng học sinh: Trong tổng số 1.789 học sinh lớp 9 được khảo sát, có tới 93,9% (1.680 học sinh) có nguyện vọng thi vào trung học phổ thông, 3,8% (68 học sinh) chọn hệ giáo dục thường xuyên kết hợp học trung cấp nghề, chỉ có 0,45% (8 học sinh) lựa chọn học nghề chuyên nghiệp, và 1,8% (32 học sinh) dự kiến đi làm lao động phổ thông. Tổng tỷ lệ học sinh muốn tiếp tục học văn hóa trung học phổ thông lên tới 97,7%.
  • Sự thụ động tuyệt đối trong quyết định chọn hướng đi: 100% học sinh thừa nhận quyết định chọn nghề phụ thuộc hoàn toàn vào ngoại cảnh: 26,7% (478 học sinh) do cha mẹ định hướng, 24,3% (435 học sinh) do giáo viên khuyên bảo, 21,1% (377 học sinh) theo ý kiến anh chị em, 19,0% (340 học sinh) đi theo bạn bè và 8,9% (159 học sinh) do người thân giới thiệu. Tỷ lệ học sinh tự đánh giá năng lực để độc lập chọn nghề là 0%.
  • Bất cập về năng lực chuyên môn của đội ngũ tư vấn: Trong 76 giáo viên trực tiếp phụ trách hướng nghiệp tại 24 trường trung học cơ sở, có 28 giáo viên (chiếm 36,8%) chưa từng tham gia bất kỳ lớp tập huấn nghiệp vụ nào. Toàn bộ 100% giáo viên làm công tác này đều là giáo viên kiêm nhiệm, chưa qua đào tạo chuyên sâu về tâm lý học nghề nghiệp.
  • Sai lệch mục tiêu dạy nghề phổ thông: 100% cán bộ quản lý (21/21 người) và giáo viên (31/31 người) xác nhận học sinh tham gia học nghề phổ thông chỉ nhằm mục đích lấy điểm ưu tiên trong kỳ thi tuyển sinh thay vì tìm hiểu định hướng việc làm.

Thảo luận kết quả

Các số liệu thống kê phản ánh rõ nét sự lệch pha giữa chính sách vĩ mô và thực tiễn triển khai. Nếu được biểu diễn dưới dạng biểu đồ tròn (Pie chart), tỷ trọng 93,9% học sinh dồn vào trung học phổ thông sẽ tạo nên một lát cắt áp đảo hoàn toàn so với tỷ lệ 0,45% của luồng học nghề. Điều này tương phản sâu sắc với bức tranh đào tạo tại các quốc gia phát triển như Singapore, Pháp hay Đức, nơi có trên 50% học sinh phân luồng sang học nghề kỹ thuật ngay sau trung học cơ sở và có cơ chế liên thông đại học minh bạch.

Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ tâm lý coi trọng bằng cấp đại học của phụ huynh, cùng với việc cơ sở vật chất tại 48 cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Phú Thọ chưa thực sự tạo được sức hút về cơ hội việc làm. Việc không phân luồng thành công khiến xã hội phải gánh chịu chi phí đào tạo lãng phí trong 3 năm học trung học phổ thông cho những học sinh có học lực trung bình yếu, làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt kỹ thuật viên và công nhân lành nghề cho các khu công nghiệp tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ nhằm đổi mới công tác tư vấn hướng nghiệp:

  • Nâng cao nhận thức xã hội và định hướng tâm lý: Tổ chức các chiến dịch truyền thông đa phương tiện hướng đến 100% phụ huynh và học sinh lớp 9 về cơ cấu ngành nghề địa phương; xóa bỏ định kiến xã hội đối với học nghề. Ban giám hiệu các trường trung học cơ sở chủ trì thực hiện định kỳ 2 lần mỗi học kỳ.
  • Chuẩn hóa và bồi dưỡng nghiệp vụ đội ngũ tư vấn: Hoàn thành bồi dưỡng 100% kỹ năng tư vấn hướng nghiệp, phương pháp đánh giá trắc nghiệm nghề nghiệp cho 76 giáo viên trung học cơ sở và 10 cán bộ Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ trong quý 3 hàng năm.
  • Đổi mới phương thức tư vấn gắn với trải nghiệm thực tế: Chuyển đổi từ thuyết trình lý thuyết sang hoạt động trải nghiệm thực tiễn; liên kết với 23 trường và trung tâm dạy nghề trên địa bàn tổ chức ngày hội trải nghiệm kỹ thuật định kỳ 1 lần/năm học cho tối thiểu 80% học sinh cuối cấp.
  • Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và kiểm tra giám sát: Thiết lập quy chế phối hợp chặt chẽ giữa Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Việt Trì, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên và các doanh nghiệp tuyển dụng; xây dựng bộ tiêu chí kiểm tra định kỳ hàng tháng, phấn đấu đạt mục tiêu phân luồng 25% - 30% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học nghề và giáo dục thường xuyên đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cán bộ quản lý giáo dục cấp Sở và Phòng Giáo dục và Đào tạo: Vận dụng số liệu khảo sát thực chứng tại 24 trường học để hoạch định chỉ tiêu tuyển sinh, xây dựng cơ chế liên kết giáo dục và ban hành chính sách phân luồng phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội địa phương.
  • Cán bộ quản lý và Ban giám hiệu các trường trung học cơ sở: Khai thác quy trình quản lý 4 bước và các tiêu chuẩn kiểm tra hoạt động tư vấn để thiết lập kế hoạch năm học, giao nhiệm vụ và đánh giá hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp 9.
  • Giáo viên chủ nhiệm và chuyên viên tư vấn học đường: Sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm và mô hình miền chọn nghề tối ưu để hỗ trợ 100% học sinh tự nhận diện năng lực, sở thích và điều kiện kinh tế gia đình.
  • Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục: Tham khảo khung lý thuyết hệ thống, phương pháp nghiên cứu mẫu lớn (1.789 học sinh) và cách tiếp cận liên ngành trong xử lý bài toán phân luồng nhân lực.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở tại thành phố Việt Trì gặp nhiều khó khăn? Rào cản lớn nhất là định kiến xã hội khi 93,9% học sinh đăng ký vào trung học phổ thông và 26,7% chịu sự áp đặt từ phụ huynh. Tâm lý muốn có bằng đại học khiến các cơ sở dạy nghề chỉ thu hút được 0,45% học sinh tốt nghiệp.

  • Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên làm công tác hướng nghiệp hiện nay ra sao? Khảo sát chỉ ra 36,8% giáo viên chưa từng qua đào tạo nghiệp vụ tư vấn và 100% là giáo viên bộ môn kiêm nhiệm. Đội ngũ này thiếu kỹ năng chẩn đoán tâm lý và thông tin thị trường lao động để định hướng cho học sinh.

  • Mục tiêu phân luồng học sinh trung học cơ sở theo quy định của Chính phủ là bao nhiêu? Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định đến năm 2020 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có đủ năng lực tiếp nhận tối thiểu 30% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở trên cả nước.

  • Mô hình "Miền chọn nghề tối ưu" trong luận văn được xây dựng như thế nào? Mô hình được xác lập từ điểm giao thoa của 3 yếu tố: Xu hướng (sở thích cá nhân), Năng lực (thể lực, tư duy, kết quả học tập) và Nhu cầu xã hội (cơ hội việc làm thực tế tại các khu công nghiệp).

  • Giải pháp nào mang tính đột phá để nâng cao chất lượng tư vấn hướng nghiệp? Đột phá then chốt là xây dựng cơ chế phối hợp đồng bộ giữa Phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường trung học cơ sở và 48 cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn để đưa học sinh đi trải nghiệm sản xuất thực tế.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa khung lý luận quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo 4 chức năng quản lý hiện đại kết hợp mô hình miền chọn nghề 3 yếu tố.
  • Phản ánh trung thực thực trạng phân luồng tại thành phố Việt Trì khi có tới 97,7% học sinh tập trung vào luồng học văn hóa trung học phổ thông.
  • Xác định điểm nghẽn cốt lõi nằm ở đội ngũ tư vấn với 36,8% giáo viên chưa qua bồi dưỡng chuyên môn và 100% học sinh thụ động trong lựa chọn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý mang tính khả thi cao nhằm hướng tới mục tiêu phân luồng 25% - 30% học sinh học nghề giai đoạn 2016 - 2020.
  • Các cấp quản lý giáo dục cần khẩn trương áp dụng quy chế phối hợp liên ngành và chuẩn hóa năng lực tư vấn cho đội ngũ giáo viên ngay từ đầu mỗi năm học để tối ưu hóa nguồn nhân lực địa phương.