Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng kiểm định chất lượng giáo dục mầm non tại các địa bàn công nghiệp hóa nhanh đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, toàn địa bàn có 36 trường mầm non với hơn 14.700 trẻ đang theo học, nhưng thời điểm năm 2018 mới chỉ có 6 trường hoàn thành quy trình tự đánh giá và được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục cấp độ III, đạt tỷ lệ khiêm tốn 16,7%.

Tự đánh giá là khâu mở đầu mang tính quyết định trong toàn bộ quy trình kiểm định chất lượng giáo dục, thể hiện tính tự chủ và trách nhiệm giải trình của mỗi cơ sở giáo dục mầm non. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động tự đánh giá của Hiệu trưởng tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên còn bộc lộ nhiều lúng túng, từ khâu nhận thức, phân công nhân sự, lập kế hoạch đến kỹ thuật thu thập, mã hóa minh chứng và xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá của Hiệu trưởng tại 36 trường mầm non (gồm 13 trường công lập và 23 trường ngoài công lập) trên địa bàn thị xã Tân Uyên trong giai đoạn 2016 - 2018. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất 5 nhóm biện pháp quản lý khoa học, khả thi nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thực tiễn. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược, cung cấp căn cứ thực chứng giúp ngành giáo dục địa phương nâng tỷ lệ trường đạt chuẩn kiểm định chất lượng lên mức 20% đến 30% mỗi năm, đáp ứng tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo Nghị quyết 29-NQ/TW và Quyết định 711/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận quản lý giáo dục hiện đại của tác giả Trần Kiểm (2008) và Đặng Quốc Bảo (2008), cấu trúc hóa quá trình quản lý nhà trường thông qua 4 chức năng cốt lõi: Kế hoạch hóa, Tổ chức bộ máy, Chỉ đạo thực hiện và Kiểm tra đánh giá.

Đồng thời, luận văn kết hợp thuyết đánh giá chất lượng của Jean-Marie De Ketele (1988) và quan điểm chất lượng là sự đáp ứng mục tiêu của Nguyễn Đức Chính (2002). Theo đó, tự đánh giá không phải là thủ tục hành chính nhất thời mà là quá trình tự soi rọi, kiểm soát chất lượng bên trong để nhận diện rõ điểm mạnh, điểm yếu và hoạch định kế hoạch cải tiến liên tục.

Khung pháp lý tham chiếu trực tiếp là Thông tư 25/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục mầm non với cấu trúc chuẩn mực gồm 5 tiêu chuẩn, 29 tiêu chí và 87 chỉ số. Bốn khái niệm nền tảng được định nghĩa xuyên suốt gồm: Quản lý giáo dục, Kiểm định chất lượng giáo dục mầm non, Tự đánh giá cơ sở giáo dục và Quản lý hoạt động tự đánh giá của Hiệu trưởng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu triển khai phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi trên toàn bộ khách thể gồm cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên văn thư kế toán tại 36 trường mầm non thuộc thị xã Tân Uyên. Việc chọn mẫu toàn thể đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho cả hai khối công lập và ngoài công lập trên địa bàn.

Bên cạnh phiếu hỏi, tác giả kết hợp phỏng vấn sâu trực tiếp cán bộ quản lý, quan sát hồ sơ minh chứng thực tế và tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018.

Dữ liệu khảo sát được mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê toán học SPSS. Các kỹ thuật phân tích chính bao gồm tính Điểm trung bình (ĐTB), Độ lệch chuẩn (ĐCL), kiểm định Independent Sample T-Test nhằm so sánh sự khác biệt nhận thức giữa nhóm cán bộ quản lý và giáo viên, cùng kiểm định One Sample T-Test để đo lường mức độ đồng thuận. Lý do lựa chọn các phép kiểm định thống kê này là nhằm loại bỏ các đánh giá cảm tính, bảo đảm tính khách quan, khoa học và độ tin cậy chuẩn xác cho các kết luận thực tiễn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ các trường tham gia và đạt chuẩn kiểm định chất lượng còn ở mức thấp. Trong tổng số 36 trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, chỉ có 6 trường đạt kiểm định chất lượng cấp độ III (tỷ lệ 16,7%). Trong năm học 2017 - 2018, mặc dù chỉ tiêu của Phòng Giáo dục và Đào tạo đề ra là huy động từ 10% đến 20% số cơ sở (khoảng 3 đến 7 trường) tham gia quy trình kiểm định, nhưng sau hơn một học kỳ chỉ có duy nhất 1 đơn vị gửi hồ sơ đăng ký đánh giá ngoài.

Thứ hai, tồn tại khoảng cách nhận thức rõ rệt giữa cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy. Kết quả kiểm định thống kê cho thấy cán bộ quản lý nhận thức rất cao về tầm quan trọng của việc lập kế hoạch tự đánh giá (ĐTB đạt trên 4,20), trong khi giáo viên có mức độ nhận thức thấp hơn đáng kể (ĐTB dao động quanh mức 3,45 - 3,60). Nhiều giáo viên vẫn xem công tác tự đánh giá là công việc kiêm nhiệm mang tính hình thức, gây áp lực ngoài giờ lên lớp.

Thứ ba, khâu thu thập, phân tích và mã hóa thông tin minh chứng là điểm nghẽn nghiêm trọng nhất. Hơn 60% trường mầm non khảo sát gặp khó khăn trong việc tìm kiếm minh chứng pháp lý gốc, phân loại hồ sơ chưa khoa học, dẫn đến việc mô tả hiện trạng tại các tiêu chí trong Tiêu chuẩn 1 (Tổ chức và quản lý) và Tiêu chuẩn 3 (Cơ sở vật chất) bị mâu thuẫn hoặc thiếu căn cứ xác thực.

Thứ tư, sự mất cân đối lớn giữa khối trường công lập và ngoài công lập. Trong khi các trường công lập duy trì định biên 2,04 giáo viên/lớp thì khối ngoài công lập chỉ đạt bình quân 1,18 giáo viên/lớp, thiếu hụt 5 phó hiệu trưởng theo quy định, biến động nhân sự thường xuyên khiến việc lưu trữ và chuyển giao hồ sơ kiểm định bị đứt gãy liên tục.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ bối cảnh kinh tế xã hội đặc thù của thị xã Tân Uyên. Là địa bàn tập trung 2 khu công nghiệp và 3 cụm công nghiệp lớn với trên 15.000 lao động nhập cư, áp lực tiếp nhận 14.700 trẻ mầm non đã khiến các nhà trường dồn phần lớn nguồn lực cho công tác chăm sóc, nuôi dưỡng bán trú, làm giảm sự quan tâm đúng mức dành cho công tác văn thư lưu trữ và tự đánh giá.

Khi trình bày dữ liệu khảo sát qua biểu đồ cột so sánh mức độ thực hiện 4 chức năng quản lý, điểm trung bình chức năng Chỉ đạo và Kiểm tra luôn thấp hơn chức năng Kế hoạch hóa. Bảng thống kê mức độ đáp ứng 5 tiêu chuẩn kiểm định cũng cho thấy rõ Tiêu chuẩn 5 (Kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục) đạt điểm cao nhất, trong khi Tiêu chuẩn 3 (Cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ chơi) đạt điểm thấp nhất do nguồn kinh phí đầu tư còn hạn hẹp.

Kết quả nghiên cứu này tương thích chặt chẽ với luận điểm của Janet Fairman và cộng sự (2009) về rào cản năng lực chuyên môn trong kiểm định trường học, đồng thời bổ trợ cho các phát hiện của Nguyễn Thị Thanh Phượng (2005) tại Đại học Texas khi khẳng định tự đánh giá là cuộc hành trình cải tiến chất lượng liên tục đòi hỏi sự cam kết đồng lòng của toàn thể nhân sự nhà trường chứ không thể áp đặt thuần túy từ trên xuống.

Đề xuất và khuyến nghị

Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên. Hiệu trưởng chủ trì tổ chức tối thiểu 2 đợt tập huấn chuyên đề mỗi năm học vào tháng 8 và tháng 1, đưa tiêu chí tham gia công tác tự đánh giá vào quy chế thi đua xếp loại nội bộ, bảo đảm 100% cán bộ giáo viên nắm vững 87 chỉ số kiểm định.

Biện pháp 2: Tăng cường bồi dưỡng năng lực nghiệp vụ tự đánh giá chuyên sâu. Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các trường mầm non tổ chức bồi dưỡng kỹ thuật viết phiếu đánh giá tiêu chí, phương pháp phân tích SWOT và kỹ năng mã hóa minh chứng cho Hội đồng tự đánh giá; hoàn thành chỉ tiêu 100% thành viên tổ thư ký sử dụng thành thạo phần mềm lưu trữ trước quý 2 hàng năm.

Biện pháp 3: Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và quy chế vận hành của Hội đồng tự đánh giá. Hiệu trưởng ban hành quyết định thành lập hội đồng đủ từ 5 thành viên trở lên theo đúng Điều lệ trường mầm non, thành lập các nhóm công tác chuyên trách phụ trách từng tiêu chuẩn, phân công trách nhiệm rõ ràng gắn với tiến độ hoàn thành cụ thể theo từng tháng trong năm học.

Biện pháp 4: Tăng cường chức năng chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của Hiệu trưởng đối với hoạt động thu thập và xử lý minh chứng. Ban Giám hiệu thiết lập lịch kiểm tra định kỳ hàng tháng và đột xuất đối với hệ thống hộp lưu trữ minh chứng, thực hiện phản biện chéo phiếu đánh giá tiêu chí giữa các tổ chuyên môn nhằm loại bỏ các nhận định chủ quan.

Biện pháp 5: Tăng cường đầu tư các điều kiện hỗ trợ về cơ sở vật chất và kinh phí. Ban Giám hiệu chủ động tham mưu Ủy ban nhân dân thị xã bố trí kinh phí chuyên trách cho công tác kiểm định, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục để trang bị máy vi tính, máy scan, tủ lưu trữ chuyên dụng; phấn đấu đến năm 2020 nâng tỷ lệ trường mầm non đạt kiểm định cấp độ III lên mức tối thiểu 30%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cán bộ quản lý trường mầm non (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng công lập và tư thục). Luận văn cung cấp cẩm nang thực hành quản lý 4 chức năng và quy trình chuẩn 7 bước triển khai tự đánh giá, giúp người quản lý xây dựng hồ sơ kiểm định khoa học, hạn chế tối đa sai sót khi tiếp đón các đoàn đánh giá ngoài của Sở Giáo dục và Đào tạo.

Nhóm 2: Chuyên viên mầm non, cán bộ thanh tra Phòng Giáo dục và Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo. Dữ liệu thực chứng của luận văn là tài liệu tham khảo giá trị để xây dựng chiến lược phân kỳ kiểm định, thiết kế nội dung bồi dưỡng chuyên môn sát thực tế cho các địa phương có mật độ khu công nghiệp cao.

Nhóm 3: Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục. Đề tài cung cấp khung lý thuyết hệ thống, thiết kế công cụ đo lường Likert và quy trình xử lý định lượng bằng phần mềm SPSS chuẩn mực, làm tài liệu tham khảo phương pháp luận cho các công trình nghiên cứu tương đương.

Nhóm 4: Giáo viên mầm non cốt cán và Tổ trưởng chuyên môn. Công trình giúp giáo viên thấu hiểu ý nghĩa của từng chỉ số tiêu chuẩn, nâng cao kỹ năng thiết lập hồ sơ sổ sách sư phạm và phương pháp tìm kiếm minh chứng gắn liền với công tác chăm sóc, giáo dục trẻ hàng ngày.

Câu hỏi thường gặp

Tự đánh giá trong kiểm định chất lượng trường mầm non gồm bao nhiêu tiêu chuẩn và tiêu chí? Theo Thông tư 25/2014/TT-BGDĐT, bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường mầm non gồm 5 tiêu chuẩn lớn, 29 tiêu chí và 87 chỉ số chi tiết. Các tiêu chuẩn bao quát toàn diện từ cơ cấu tổ chức quản lý, đội ngũ nhân sự, cơ sở vật chất đến mối quan hệ cộng đồng và chất lượng nuôi dưỡng giáo dục trẻ.

Tại sao tỷ lệ trường mầm non đạt kiểm định tại Tân Uyên thời điểm nghiên cứu chỉ đạt 16,7%? Tỷ lệ này bắt nguồn từ sự quá tải về quy mô học sinh do tốc độ đô thị hóa nhanh với 14.700 trẻ, sự thiếu hụt cán bộ quản lý ở khối ngoài công lập (thiếu 5 phó hiệu trưởng), cùng với hạn chế về kỹ năng thu thập minh chứng và công tác văn thư lưu trữ của các trường.

Khó khăn lớn nhất của các trường mầm non khi thu thập minh chứng tự đánh giá là gì? Khó khăn lớn nhất là việc bảo quản, tích lũy hồ sơ minh chứng gốc qua các năm học chưa được thực hiện bài bản. Giáo viên thường nhầm lẫn giữa tài liệu hành chính thông thường với minh chứng kiểm định, dẫn đến tình trạng thiếu minh chứng hợp thức cho các tiêu chí thuộc Tiêu chuẩn 1 và Tiêu chuẩn 3.

Hội đồng tự đánh giá tại trường mầm non cần có tối thiểu bao nhiêu thành viên? Căn cứ quy định hiện hành, Hội đồng tự đánh giá do Hiệu trưởng ra quyết định thành lập phải có ít nhất 5 thành viên, bao gồm: Chủ tịch là Hiệu trưởng, Phó Chủ tịch là Phó Hiệu trưởng, Thư ký là giáo viên có năng lực, cùng các ủy viên đại diện tổ chuyên môn, tổ văn phòng và đoàn thể.

Kiểm định thống kê SPSS đóng vai trò gì trong việc chứng minh tính cấp thiết của đề tài? Phần mềm SPSS xử lý các chỉ số thống kê mô tả, Điểm trung bình, Độ lệch chuẩn và các kiểm định Independent Sample T-Test, One Sample T-Test. Các chỉ số này chứng minh mức độ tin cậy khoa học, khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên, làm cơ sở đề xuất biện pháp.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa hệ thống cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng trường mầm non theo 4 chức năng quản lý cốt lõi.
  • Công trình phản ánh bức tranh thực trạng chân thực tại thị xã Tân Uyên giai đoạn 2016 - 2018 với tỷ lệ 16,7% trường đạt kiểm định chất lượng cấp độ III.
  • Nghiên cứu chỉ rõ 4 nguyên nhân gốc rễ dẫn đến hạn chế kiểm định gồm áp lực dân số cơ học, biến động nhân sự ngoài công lập, kỹ năng minh chứng yếu và hồ sơ lưu trữ chưa chuẩn hóa.
  • Đề xuất hệ thống 5 giải pháp quản lý đồng bộ đã được khảo nghiệm chứng minh có tính cấp thiết và tính khả thi rất cao trong môi trường giáo dục mầm non thực tế.
  • Đóng góp mô hình quản lý tự đánh giá mẫu có thể áp dụng hiệu quả cho các địa bàn phát triển khu công nghiệp trên phạm vi toàn quốc.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ sở giáo dục mầm non cần nhanh chóng rà soát toàn bộ hồ sơ minh chứng theo chu kỳ kiểm định, lập kế hoạch cải tiến chất lượng ngay trong học kỳ tới và chủ động đăng ký đánh giá ngoài với cơ quan quản lý giáo dục. Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm hãy khai thác toàn văn tài liệu để áp dụng ngay bộ giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại đơn vị!