Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông 1. Những nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm ở trường trung học phổ thông Từ hơn 2000 năm trước, Khổng Tử (551-497 TCN) đã cho rằng: “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”, với tư tưởng này đã thể hiện việc chú trọng học tập từ trải nghiệm và làm việc.
Nhà triết học Hy Lạp Socrates (470-399 TCN) cũng nhấn mạnh “Người ta phải học bằng cách làm một việc gì đó; với những điều bạn nghĩ là mình biết, bạn sẽ thấy không chắc chắn cho đến khi làm nó”. Đây chính là những tư duy đầu tiên của “giáo dục trải nghiệm” [67]. Nhà giáo dục tiêu biểu của thời kỳ văn hóa Phục hưng là Thomas More (1478-1535) đã đặt tiền đề cho nền giáo dục mới, ông đề cao: “Phương pháp quan sát, thí nghiệm, thực hành trong dạy học và giáo dục, theo ông, lao động là nghĩa vụ của mọi người, song mỗi ngày chỉ làm việc sáu giờ, thời gian còn lại để học văn hóa và sinh hoạt xã hội; giáo dục nhằm phát triển nhiều mặt ở trẻ em: về thể chất, đạo đức, trí tuệ và kỹ năng lao động”; François Rabelais (1494-1553), cũng đã có sáng kiến quản lý các hình thức giáo dục theo hướng trải nghiệm để phát triển về “trí dục, đạo đức, thể chất và thẩm mĩ” ngoài giờ học ở lớp bằng việc mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày để trải nghiệm thực tiễn cuộc sống; hay tổ chức các buổi tham quan xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn… [93]. Từ những năm 30 của thế kỉ XX lần lượt xuất hiện các lý thuyết được xem là cơ sở lý luận của HĐTN ở trường phổ thông: 10 - Lý thuyết hoạt động nghiên cứu về lý thuyết bản chất quá trình hình thành con người, thông qua hành động của chính bản thân con người, nhân cách mới được hình thành và phát triển.
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Nguyên tắc này có ý nghĩa chỉ đạo, tổ chức các HĐGD con người trong nhà trường. Người học có tự lực hoạt động thì mới biến kiến thức, kinh nghiệm thành trí thức, kỹ năng của bản thân. - Lý thuyết tương tác xã hội đã chỉ ra rằng, môi trường xã hội - lịch sử không chỉ là đối tượng, là điều kiện, phương tiện mà còn là môi trường hình thành tâm lý mỗi cá nhân.
Con người tương tác với những người xung quanh, tương tác trong môi trường xã hội sẽ hình thành nên tâm lý người. Vận dụng nguyên tắc ấy trong giáo dục, nhà tâm lý học hoạt động nổi tiếng, L.Vygotsky đã chỉ ra rằng: Trong giáo dục, trong một lớp học cần coi trọng sự khám phá có sự trợ giúp hơn là sự tự khám phá. Sự khuyến khích bằng ngôn ngữ của GV và sự cộng tác cả các bạn cùng lứa tuổi trong học tập là rất quan trọng. Như vậy, quá trình học tập, HS cần được hoạt động, tương tác với các bạn trong lớp, dưới sự chỉ huy, hướng dẫn của GV để hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có hiệu quả [42].
- Dạy học thông qua trải nghiệm được biết đến với tư cách là một quan điểm dạy học do nhà giáo dục David Kolb (1939) đề xuất. Một trong những lý thuyết trực tiếp của HĐTN trong dạy học là lý thuyết học từ trải nghiệm. Trong đó, ông đã chỉ ra rằng: “Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm học. Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”.
Những năm sau đó, ông và cộng sự phát triển lý thuyết trải nghiệm và xuất bản mô hình học tập trải nghiệm (1984) với những đặc điểm nổi bật: Học tập được tiếp nhận tốt nhất là trong quá trình chứ không phải là kết quả; Học tập là quá trình liên tục được khởi nguồn từ kinh nghiệm; Quá trình học tập đòi hỏi giải pháp cho những sự xung đột về sự thích nghi của các phương thức đối lập biện chứng về thế giới; Học tập bao gồm sự tương tác giữa con người và môi trường và là quá trình tạo ra tri thức, là sự vận dụng kiến thức xã hội cùng với kiến thức cá nhân. Tác giả David Kolb chỉ rõ mục đích của 11 HĐGD cho mỗi cá nhân là hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, các giá trị sống, kỹ năng sống và những năng lực chung khác. Để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học nhưng để hình thành và phát triển phẩm chất thì người học phải được trải nghiệm. Trải nghiệm sẽ làm cho việc học trở nên hiệu quả nếu trải nghiệm có sự định hướng, tư vấn của người dạy [112].
Nhà khoa học nổi tiếng người Mỹ ở giữa thế kỉ XX, John Dewey, ông là giáo sư trường Đại học Côlômbia (New York) đã đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục. Theo ông, học qua trải nghiệm xảy ra khi một người học sau khi tham gia trải nghiệm nhìn nhận lại và đánh giá, xác định cái gì là hữu ích hoặc quan trong cần nhớ và sử dụng những điều này đề thực hiện các hoạt động khác trong tương lai [123]. John Dewey cho rằng giáo dục và học tập là các quá trình xã hội và tương tác, do đó chính trường học là một thể chế xã hội. Ông tin rằng HS sẽ phát triển mạnh trong một môi trường mà HS được phép trải nghiệm và tương tác với chương trình giảng dạy; tất cả HS nên có cơ hội tham gia vào việc học trải nghiệm của mình.
Như vậy, tầm quan trọng của giáo dục không chỉ như là một nơi để đạt được kiến thức nội dung mà còn là một nơi để tìm hiểu làm thế nào để sống. Theo ông, mục đích của giáo dục là “không nên xoay quanh việc mua một bộ kỹ năng được xác định trước, mà là để thực hiện đầy đủ tiềm năng của học sinh và khả năng sử dụng các kỹ năng đó cho lợi ích lớn hơn”. Ông cũng lưu ý: "để chuẩn bị cho cuộc sống tương lai của học sinh có nghĩa là để cho các em tự chỉ huy mình, có nghĩa là đào tạo học sinh sẽ có đầy đủ kiến thức, kỹ năng và sẵn sàng sử dụng tất cả các năng lực của chính mình" [121]. GV cũng cần trải nghiệm để có kinh nghiệm để đảm nhận vai trò dẫn dắt HS thông qua các kiến thức, kỹ năng từ thực tiễn cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội [121], [122].
Tuy quan điểm có khác nhau, song các học giả đều công nhận vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục trải nghiệm: Sakofs (1995) khuyến khích mối liên hệ giữa các bài học trừu tượng với các HĐGD cụ thể để hình thành các phẩm chất và năng lực cho HS; Chapman, Mc.Phee và Proudman (1995) cho rằng việc học từ trải nghiệm phải gắn kinh nghiệm của người học với hoạt 12 động phản ánh và phân tích; Joplin (1995) bổ sung rằng chỉ có kinh nghiệm là chưa đủ để được coi là trải nghiệm mà chính quá trình phản ánh đã chuyển hóa kinh nghiệm thành trải nghiệm giáo dục, hình thành nên các năng lực cụ thể [137]. Như vậy, các nghiên cứu về giáo dục học cũng như các mô hình học tập trải nghiệm trên thế giới đã và đang khẳng định vai trò, tầm quan trọng của HĐTN trong việc hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực HS. Trong HĐTN, người học trở thành chủ thể, là trung tâm và sự phát triển phẩm chất và năng lực người học là giá trị cốt lõi của HĐTN. Khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề, tính chủ động và sáng tạo ở người học đặc biệt được chú ý.
Để đạt được các giá trị này thì HĐTN là hình thức giáo dục có nhiều ưu điểm và đem lại hiệu quả cao, linh hoạt và đa chiều. Năm 1996, Ủy ban Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc, UNESCO đã xuất bản báo cáo nghiên cứu về vấn đề giáo dục, trong đó đề cập đến 4 trụ cột của giáo dục Thế kỷ XXI và hướng tới hình thành và phát triển cho HS các phẩm chất và năng lực chung, năng lực chuyên môn, năng lực quản lý và lãnh đạo. Đây có thể coi là những nguyên tắc cơ bản để định hình lại giáo dục cho phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu. Cụ thể 4 trụ cột của giáo dục bao gồm: (1) Học để biết (Learning to know): nghĩa là cung cấp cho người học các công cụ nhận thức để có thể hiểu biết thế giới phức tạp và trang bị nền tảng kiến thức phù hợp để người học tiếp tục học tập, khám phá tri thức trong suốt cuộc đời của họ.
(2) Học để làm (Learning to do): trang bị cho người học kiến thức, kỹ năng và thái độ để mỗi cá nhân có thể thực hành nghề nghiệp thành công và tham gia hiệu quả vào nền kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu. (3) Học để khẳng định (Learning to be): là cung cấp cho mỗi cá nhân tư duy phân tích, kỹ năng xã hội để họ có thể phát huy tốt nhất những phẩm chất tâm lý, xã hội cũng như sức khỏe thể chất và trở thành những con người hoàn thiện. (4) Học để chung sống (Learning to live together): là để mỗi cá nhân thấu hiểu những giá trị hàm chứa trong khuôn khổ quyền con người, những nguyên tắc dân chủ, sự hiểu biết giá trị văn hóa nhân loại, sự tôn trọng, hòa bình, quan hệ trong xã hội loài người. Từ đó, mỗi cá nhân có thể chung sống hài hòa giữa các mối quan hệ [105].
13 Tại Úc, một số trường trung học đã thiết lập các chương trình giáo dục trải nghiệm. Thông qua chương trình trải nghiệm đã giúp HS tự tin, hình thành các năng lực tổ chức, quản lý, làm việc nhóm [126]. Các tác giả Armin Mahmoudi và Golsa Moshayedi (2012) nhận định HĐTN có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển các kỹ năng sống cho HS [110]. Thông qua các trải nghiệm cụ thể, HS được thực hành, thử sức để tự rút ra các kinh nghiệm cho riêng mình.