Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý thuế tài nguyên. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý thuế tài nguyên tại Cục thuế tỉnh Lào Cai. Chương 4: Một số giải pháp tăng cường quản lý thuế tài nguyên tại Cục thuế tỉnh Lào Cai trong thời gian toi.
TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LÝ THUÊ TÀI NGUYEN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Cho đến nay đã có một số nghiên cứu liên quan đến thuế tài nguyên và công tác quản lý thuế tài nguyên, cả ở trong và ngoài nước, tiêu biểu là các công trình: Nghiên cứu của Robin Boadway (2013) về các nguyên tắc tính thuế tai nguyên và các vấn đề về chính sách liên quan. Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp định lượng, nghiên cứu nay đã sử dung đữ liệu của 147 công ty trong giai đoạn 2015 — 2012 để xác định thuế tài nguyên được hình thành từ hai nguồn: (i) nguồn tài nguyên tái chế và (ii) nguồn tài nguyên không tái chế. Nghiên cứu này cũng chỉ ra thuế tài nguyên có đóng gop quan trọng vào nguồn thu ngân sách nhằm phục vụ hoạt động của khu vực công.
Đồng thời cũng đánh giá những tác động của thuế tài nguyên tới các nhà sản xuất. Ở giai đoạn thuế tài nguyên điều chỉnh mức cao thì các nhà sản xuất đã phải xem xét các khoản chi phí và cũng tìm cách dé giữ được lợi nhuận 6n định. Nghiên cứu đã phát hiện thuế tài nguyên có vai trò quan trọng trong việc đóng góp nguồn thu cho ngân sách nhà nước và khi chính phủ điều chỉnh thuế tài nguyên ở mức cao thì có tác động tới việc cắt giảm các khoản chi phí khác của nha sản xuất. Nghiên cứu của Frauke Eckermamn (2018) đã khảo sát đối với 254 nhân viên chính quyền và 260 nhà đầu tư khai khoáng.
Với số liệu thu thập được nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích dữ liệu định tính và phân tích định lượng. Kết quả cho thấy có ba loại thuế tài nguyên mà khu vực tư nhân phải nộp cho ngân sách nhà nước. Cụ thé như sau: (i) Thuế khai thác tài nguyên (thuế đánh vào tài nguyên tại các điểm khai thác), (ii) thuế nguyên liệu đầu vào (thuế đánh vào tài nguyên khi họ tham gia vào sản xuất), (iii) thuế tiêu thụ (thuế đánh vào tai nguyên thé hiện trong một sản phẩm cuối cùng hoặc trên một sản phẩm cuối cùng tài nguyên nhạy cảm). Nghiên cứu này chỉ ra rằng giá cả hàng hóa trên thị trường tăng hay giảm không phải chỉ bởi sự khan hiếm nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất mà còn bởi mức thuế tài nguyên áp dụng trên hàng hóa đó.
Chính vì vậy, thuế tài nguyên ngoài những tác động trực tiếp đến giá cả hàng hóa, thuế tài nguyên còn ảnh hưởng đến hành vi hoạt động của các tô chức kinh tế. Thu thuế tài nguyên còn đóng góp cho việc cải tạo môi trường, bởi lẽ khai thác tài nguyên chỉ mang lại ngoại ứng tiêu cực là hủy hoại môi trường, làm ảnh hưởng tới các hoạt động xung quanh nơi khai thác. Chính vì lý do đó mà nhiều quốc gia phát triển đánh thuế rất thấp đối với nguồn đầu vào cho sản xuất tái chế được. Nghiên cứu này đã đưa ra các đề xuất thuế tài nguyên như là một công cụ của Nhà nước trong việc điều tiết các hành vi khai thác sử dụng tài nguyên ở các nước thuộc liên minh Châu Âu.
Nghiên cứu đã phát hiện thuế tài nguyên ngoài việc tác động đến các hãng khai khoáng nó còn tác động đến giá cả hàng hóa sản xuất từ tài nguyên. Nhưng điều tiết khai thác như thế nào là phù hợp đề có tác động tích cực thì nghiên cứu chưa chỉ rõ và chưa đưa ra lý luận cũng như căn cứ thực tiễn dé xác định mức thuế tài nguyên hợp lý. Paula Casal (2017) nghiên cứu về thuế tài nguyên thiên nhiên toàn cầu. Nghiên cứu sử dụng các đữ liệu điều tra từ năm 2010 của các cơ quan Tài chính công của Chính phủ Tây Ban Nha để đưa ra các đánh giá về thuế tài nguyên thiên nhiên toàn cầu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thuế tài nguyên ngoài việc tạo ra nguồn thu cho Chính phủ nó còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc khôi phục môi trường khai thác, làm hạn chế những tác động xấu sau quá trình khai thác của nó. Khai thác tài nguyên hầu như chỉ mang lại ngoại ứng tiêu cực, làm ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp khai thác mà không được tính trong giá thành sản phẩm. Chính vì thế không phải chỉ đơn lẻ từng quốc gia quan tâm đến bảo vệ môi trường nhờ công cụ thuế tài nguyên thiên nhiên mà đòi hỏi tất cả các nước trên toàn cầu đều phải sử dụng công cụ thuế dé điều tiết hoạt động khai thác của các nhà đầu tư nhằm hạn chế thấp nhất những tác động xấu đến môi trường. Thậm chí Chính phủ phải dừng khai thác đối với một số mỏ có tác động đến môi trường trên diện rộng.
Sử dụng nguồn thu từ thuế tài nguyên dé khắc phục tác hại do khai thác tài nguyên gây ra. Phát hiện chính của nghiên cứu này là thuế tài nguyên có tác động đến nguồn thu của Chính phủ và tác động đến môi trường toàn cầu. Nghiên cứu chưa đưa ra các tiêu chí đánh giá tác động của thuế tài nguyên, phân tích tác động của thuế tài nguyên đến khối lượng tài nguyên khai thác và mức thuế tài nguyên như thế nào là phù hợp. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Phương (2010) đã dé cập đến các van dé chung về thuế.
Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về thuế tài nguyên từ góc độ lý luận và thực tiễn như: vai trò của thuế tải nguyên, các nội dung hoàn thiện chính sách thuế, các nhân tố ảnh hưởng tới việc hoan thiện chính sách, sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách, kinh nghiệm hoàn thiện chính sách thuế tài nguyên ở một số nước trên thế giới. Những nội dung có liên quan đến người nộp thuế, đối tượng tài nguyên chịu thuế, căn cứ dé tính thuế, căn cứ xác định giá tính thuế, thuế suất, các trường hợp được miễn giảm thuế trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Nghiên cứu dựa vào số liệu thu thuế tài nguyên từ cơ quan thuế Ninh Bình trong giai đoạn 2005 — 2009 và các chính sách thuế hiện hành dé phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách thuế tải nguyên ở tỉnh Ninh Bình. Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, nghiên cứu đã chỉ rõ những thành công, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế.
Luận văn đưa ra các phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách thuế tài nguyên. Phát hiện của nghiên cứu là tong hợp được các nhân tô ảnh hưởng đến việc hoàn thiện chính sách thuế tài nguyên; đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách thuế tài nguyên. Nghiên cứu chưa đánh giá những tác động của thuế tài nguyên đến hoạt động khai thác tiết kiệm tài nguyên, tác động đến thu ngân sách nhà nước và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Khi đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách thuế tài nguyên chưa có những căn cứ khoa học về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn (2018) đã xây dựng được cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế tài nguyên. Trên cơ sở đó, luận văn đánh giá thực trạng quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Đắc Lắk, chỉ ra những thành tựu và hạn chế, từ đó đề xuất được 4 nhóm giải pháp dé hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Đắc Lắk. Nghiên cứu của Trần Thu Huyền (2020) đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh dé đánh giá thực trạng quan lý thuế tài nguyên trên địa bàn tinh Quảng Ninh. Căn cứ vào những hạn ché, tác giả đã đề xuất 5 giải pháp để quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đó là: hoàn thiện bộ máy quản lý thuế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải tiến quy trình và thủ tục kê khai thuế, tăng cường công tác thanh tra giám sát, tăng cường các biệp pháp xử phạt.
Nghiên cứu của Nguyễn Bích Thủy (2020) đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế tài nguyên như: khái niệm, nội dung, tiêu chí, các nhân tô ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế tài nguyên, bài học kinh nghiệm của một số địa phương trong công tác quản lý thuế tài nguyên. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả cũng đã đề xuất 4 quan điểm và 4 nhóm giải pháp để tăng cường công tác quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn 2021 - 2025. Nghiên cứu của Lê Bích Vân (2021) cũng đã hệ thống hóa những vấn dé lý luận chung về quan lý thuế tài nguyên. Sau khi phân tích và đánh giá thực trạng, tìm ra những ưu điểm và hạn chế trong công tác quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, luận văn đã đề xuất 5 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Đó là các giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường công tác thanh - kiểm tra, hoàn thiện quy trình nộp thuế, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế tài nguyên, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Nghiên cứu của Huynh Quang Khôi (2018) đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích — tong hợp, thống kê — mô tả, so sánh dé phân tích thực trạng quản lý thuế tài nguyên tại Cục thuế tỉnh Lâm Đồng. Luận văn đã chỉ ra được những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục thuế tỉnh Lâm Đồng, đó là: công tác lập kế hoạch còn mang tính chung chung, chưa phát huy tinh thần dân chủ của cán bộ nhân viên của Cục thuế tỉnh Lâm Đồng, công tác thanh tra, giám sát còn mang tính hình thức, chưa kiên quyết triệt để trong xử lý các vi phạm.