Tổng quan nghiên cứu

Quản lý thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường giữ vai trò then chốt trong việc kiểm soát khai thác tài nguyên và bảo vệ hệ sinh thái bền vững. Trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, tổng thu từ hai nguồn này năm 2014 đạt 936 triệu đồng, năm 2015 tăng lên 1.045 triệu đồng và năm 2016 chạm mốc 1.121 triệu đồng, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 112,19% mỗi năm. Mặc dù số thu tăng đều đặn, kết quả thực hiện vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra khi năm 2014 chỉ đạt 91% dự toán, năm 2015 đạt 88% và năm 2016 chỉ đạt 95% dự toán ngân sách được giao.

Thực trạng này xuất phát từ quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng cùng với hoạt động sôi động của các cụm công nghiệp và làng nghề truyền thống như gốm sứ Bát Tràng, dát vàng Kiêu Kỵ, chế biến thuốc bắc Ninh Giang. Hoạt động sản xuất gia tăng dẫn đến lượng nước thải công nghiệp và nhu cầu khai thác nguồn nước ngầm ngày càng lớn, trong khi tình trạng thất thoát nguồn thu từ thuế và phí vẫn diễn biến phức tạp.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng quản lý thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại huyện Gia Lâm giai đoạn 2014-2016 với thời gian hoàn thành từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017. Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hoàn thiện cơ chế thu ngân sách, hướng đến mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm và nâng tỷ lệ hoàn thành dự toán hàng năm đạt 100%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế công cộng, trọng tâm là lý thuyết ngoại ứng tiêu cực của Arthur Pigou và nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền. Các lý thuyết này khẳng định thuế và phí môi trường là công cụ kinh tế hữu hiệu nhằm nội hóa các chi phí ngoại ứng, buộc chủ thể xả thải phải chịu trách nhiệm tài chính cho các tổn hại sinh thái do hoạt động sản xuất gây ra.

Khung phân tích vận dụng ba khái niệm cốt lõi:

  • Thuế tài nguyên: Khoản thu bắt buộc của ngân sách nhà nước theo Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12, đánh vào sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác như khoáng sản, nước thiên nhiên mặt và ngầm.
  • Thuế bảo vệ môi trường: Khoản thuế gián thu theo Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 đối với 8 nhóm hàng hóa gây tác động xấu đến môi trường khi sử dụng, bao gồm xăng dầu, than đá, túi ni lông.
  • Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp: Khoản thu bù đắp chi phí xử lý ô nhiễm và duy tu môi trường theo Nghị định 25/2013/NĐ-CP và Nghị định 154/2016/NĐ-CP, áp dụng trực tiếp cho các cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, thực phẩm, làng nghề có xả thải ra môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo quyết toán ngân sách, hồ sơ thanh tra kiểm tra thuế và kế hoạch thu ngân sách giai đoạn 2014-2016 tại Chi cục Thuế huyện Gia Lâm, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gia Lâm, và Cục Thuế thành phố Hà Nội.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra khảo sát với cỡ mẫu gồm 60 phiếu điều tra. Cỡ mẫu được phân bổ cho cán bộ quản lý thuế, chuyên viên môi trường và đại diện ban lãnh đạo các doanh nghiệp sản xuất, chế biến làng nghề trên địa bàn huyện. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm ngành có lưu lượng xả thải và khai thác tài nguyên nước lớn.

Phương pháp phân tích số liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh định tính và định lượng, so sánh tốc độ tăng trưởng liên hoàn và đối chiếu sai lệch giữa số liệu kê khai với kết quả kiểm tra thực tế. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm làm rõ khoảng trống thất thu, lượng hóa mức độ tuân thủ cơ chế tự khai tự nộp và đánh giá toàn diện năng lực của bộ máy quản lý tại địa phương trong giai đoạn 2016-2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường có xu hướng tăng trưởng liên tục qua các năm. Số thu thuế tài nguyên năm 2014 đạt 161 triệu đồng, đến năm 2016 tăng lên 222 triệu đồng, đạt mức tăng trưởng bình quân 17,44% mỗi năm. Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp năm 2014 đạt 802 triệu đồng, đến năm 2016 đạt 990 triệu đồng, tăng trưởng bình quân 11,1% mỗi năm.

Thứ hai, kết quả thu thực tế luôn thấp hơn dự toán ngân sách được cấp trên phê duyệt. Năm 2014, tỷ lệ thực hiện đạt 91% dự toán, năm 2015 giảm xuống 88%, và năm 2016 chỉ đạt 95%. Điều này cho thấy công tác lập dự toán chưa sát với tình hình sản xuất kinh doanh thực tế và khả năng bao quát nguồn thu của cơ quan chuyên môn còn nhiều khoảng trống.

Thứ ba, tình trạng thất thu do gian lận kê khai ở mức đáng báo động. Kết quả thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế cho thấy số thuế và phí do các doanh nghiệp tự kê khai chỉ chiếm từ 50% đến 60% số tiền thực tế phải nộp. Nghĩa là có từ 40% đến 50% số nghĩa vụ tài chính về môi trường bị bỏ sót hoặc gian lận thông qua việc khai thiếu sản lượng khai thác và giảm nồng độ ô nhiễm nước thải.

Thứ tư, cơ cấu nguồn thu có sự mất cân đối nghiêm trọng khi phí bảo vệ môi trường chiếm tỷ trọng áp đảo trên 88% tổng số thu môi trường của huyện, trong khi thuế tài nguyên chỉ chiếm chưa đầy 12% tổng nguồn thu trong suốt giai đoạn 2014-2016.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến thất thu thuế và phí tài nguyên môi trường tại huyện Gia Lâm xuất phát từ sự phối hợp lỏng lẻo giữa Chi cục Thuế và Phòng Tài nguyên và Môi trường. Công tác quản lý đối tượng nộp theo cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp còn thiếu công cụ giám sát đo đạc tự động. Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý còn hạn chế trong việc thẩm định quy chuẩn kỹ thuật nước thải và định mức tiêu hao tài nguyên.

Khi so sánh với mô hình của tỉnh Bắc Giang, nơi số thu từ khai thác khoáng sản tăng từ 17,7 tỷ đồng năm 2010 lên 61,5 tỷ đồng năm 2012 nhờ kiểm soát chặt bảng kê mua vào bán ra và phối hợp liên ngành, huyện Gia Lâm vẫn chưa khai thác tối đa nguồn thu từ các cơ sở sản xuất phân tán. Kinh nghiệm từ Singapore cho thấy việc phân loại rủi ro tuân thủ dựa trên 4 trụ cột minh bạch giúp giảm tối đa tình trạng trốn thuế. Tại Thụy Điển, thuế môi trường đóng góp tới 3% GDP với doanh thu 68 tỷ cuaron mỗi năm nhờ cơ chế hoàn trả chi phí xả thải, còn CHLB Đức giảm 24 triệu tấn CO2 vào năm 2010 sau cuộc cải cách thuế sinh thái tăng thuế năng lượng từ 31% đến 88%.

Để dữ liệu trực quan hơn, các số liệu thu ngân sách và khoảng cách thất thu kê khai của huyện Gia Lâm nên được biểu diễn bằng biểu đồ cột so sánh dự toán và thực thu, kết hợp bảng ma trận đối chiếu sai lệch hồ sơ tự khai của 60 đối tượng điều tra, giúp cơ quan quản lý dễ dàng nhận diện các điểm nghẽn thất thoát tài chính.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và chia sẻ thông tin dữ liệu số giữa Chi cục Thuế và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gia Lâm. Thiết lập quy chế trao đổi dữ liệu định kỳ hàng tháng về giấy phép khai thác nước, lưu lượng xả thải và danh mục cơ sở phát sinh nguồn thải mới, phấn đấu đưa tỷ lệ hoàn thành dự toán thu ngân sách đạt 100% từ năm 2018.

Thứ hai, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chuyên đề và xử phạt nghiêm minh theo đúng Quyết định 746/QĐ-TCT về kiểm tra thuế và Quyết định 1404/QĐ-TCT về thanh tra thuế của Tổng cục Thuế. Đặt mục tiêu hàng quý thanh tra tối thiểu 30% doanh nghiệp có nguy cơ cao về ô nhiễm, giảm tỷ lệ sai lệch giữa kê khai và thực tế từ mức 40%-50% hiện nay xuống dưới 15% vào năm 2020.

Thứ ba, bắt buộc lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động và đồng hồ đo lưu lượng nước khai thác tại 100% doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các cơ sở trong làng nghề có quy mô xả thải từ 50 mét khối một ngày đêm trở lên trong giai đoạn 2018-2019, do Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm trực tiếp chỉ đạo.

Thứ tư, nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ thuế và môi trường. Tổ chức định kỳ 2 đợt tập huấn mỗi năm về phương pháp xác định nồng độ ô nhiễm theo quy chuẩn quốc gia, kỹ năng quản lý rủi ro và cách thức áp dụng phần mềm quản lý thuế tích hợp.

Thứ năm, đẩy mạnh tuyên truyền chính sách pháp luật về Luật Thuế tài nguyên và Nghị định 154/2016/NĐ-CP. Công khai danh sách các doanh nghiệp nợ đọng thuế, phí trên Cổng thông tin điện tử của huyện Gia Lâm định kỳ ngày 20 hàng tháng nhằm nâng cao ý thức tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, lãnh đạo và chuyên viên tại Chi cục Thuế, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp quận, huyện: Nắm vững quy trình nghiệp vụ phối hợp liên ngành, kỹ năng rà soát tờ khai và công tác quản lý nợ đọng thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường tại địa phương.

Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, thành phố như Cục Thuế thành phố Hà Nội và Sở Tài nguyên và Môi trường: Khai thác cứ liệu thực chứng để tham mưu hoàn thiện chính sách phân cấp nguồn thu, xây dựng bảng giá tính thuế tài nguyên sát thực tế và điều chỉnh khung mức phí nước thải phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế.

Thứ ba, ban giám đốc, kế toán trưởng và cán bộ phụ trách an toàn môi trường tại các doanh nghiệp, hợp tác xã làng nghề: Nhận thức đầy đủ nghĩa vụ pháp lý theo Luật Thuế tài nguyên và Luật Bảo vệ môi trường, từ đó hoàn thiện hồ sơ kê khai chuẩn xác, chủ động đầu tư công nghệ xử lý chất thải nhằm giảm thiểu chi phí thuế, phí phải nộp.

Thứ tư, giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế, Tài chính công: Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thực chứng, hệ thống hóa chỉ tiêu kinh tế môi trường và mô hình phân tích định lượng kết hợp định tính trong quản lý tài chính công cấp huyện.

Câu hỏi thường gặp

Bản chất pháp lý của thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường khác nhau như thế nào?
Thuế tài nguyên là khoản nộp bắt buộc của ngân sách nhà nước theo luật định, không mang tính hoàn trả trực tiếp và cấu thành trong giá bán sản phẩm tài nguyên khai thác. Phí bảo vệ môi trường mang tính đối giá trực tiếp, thu vào hành vi xả thải nhằm bù đắp chi phí xử lý ô nhiễm và duy tu môi trường theo Nghị định 154/2016/NĐ-CP.

Tại sao tỷ lệ thu thuế và phí tài nguyên môi trường tại huyện Gia Lâm giai đoạn 2014-2016 không đạt dự toán?
Tỷ lệ thực hiện chỉ đạt từ 88% đến 95% dự toán do tình trạng gian lận kê khai diễn ra phổ biến khi số liệu tự kê khai chỉ đạt 50% đến 60% thực tế, kết hợp với công tác lập dự toán chưa sát và sự thiếu đồng bộ trong kiểm tra liên ngành giữa cơ quan thuế và phòng tài nguyên.

Căn cứ nào được sử dụng để xác định số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp?
Theo Nghị định 25/2013/NĐ-CP và Nghị định 154/2016/NĐ-CP, phí nước thải công nghiệp được tính dựa trên tổng lượng nước thải xả ra môi trường, nồng độ các chất gây ô nhiễm có trong nước thải như nhu cầu oxy hóa học COD, tổng chất rắn lơ lửng TSS và mức thu phí quy định trên từng thông số ô nhiễm.

Doanh nghiệp có hành vi trốn tránh kê khai thuế tài nguyên và phí môi trường sẽ bị xử lý ra sao?
Căn cứ Luật Quản lý thuế và các nghị định xử phạt vi phạm hành chính, doanh nghiệp vi phạm sẽ bị truy thu 100% số tiền thuế, phí trốn lậu, chịu tiền phạt chậm nộp 0,05% mỗi ngày, bị phạt tiền từ 1 đến 3 lần số tiền trốn thuế và có thể bị đình chỉ hoạt động xả thải nếu tái phạm nghiêm trọng.

Kinh nghiệm quốc tế của CHLB Đức và Thụy Điển mang lại bài học gì cho huyện Gia Lâm?
Đức và Thụy Điển đã thành công khi tăng thuế môi trường từ 31% đến 88% kết hợp cơ chế hoàn trả tài chính cho đơn vị giảm phát thải NOx, giúp thu 68 tỷ cuaron mỗi năm. Gia Lâm cần học hỏi việc sử dụng chế tài kinh tế mạnh mẽ gắn với đầu tư công nghệ đo kiểm tự động để tạo động lực tự giác bảo vệ môi trường.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về quản lý thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường tại cấp huyện.
  • Đánh giá thực trạng huyện Gia Lâm giai đoạn 2014-2016 với số thu tăng từ 936 triệu đồng lên 1.121 triệu đồng, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 112,19% mỗi năm.
  • Chỉ rõ hạn chế lớn khi mức thu thực tế chỉ đạt từ 88% đến 95% dự toán và số liệu tự kê khai của doanh nghiệp chỉ chiếm 50% đến 60% nghĩa vụ thực tế phải nộp.
  • Xác định nguyên nhân trọng tâm từ công tác phối hợp liên ngành lỏng lẻo, năng lực kiểm định thông số ô nhiễm của cán bộ còn hạn chế và ý thức tuân thủ của doanh nghiệp chưa cao.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ về cơ chế phối hợp, lắp đặt thiết bị quan trắc tự động và kiểm tra thuế theo quy trình chuẩn của Tổng cục Thuế với lộ trình hoàn thành đến năm 2020.

Đóng góp chính của công trình là cung cấp luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn có khả năng ứng dụng trực tiếp tại Chi cục Thuế và Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm nhằm chống thất thu ngân sách và bảo vệ môi trường. Các nhà quản lý và nghiên cứu có thể vận dụng ngay khung phân tích này để rà soát, nâng cao hiệu quả quản trị tài chính công tại các địa phương có đặc điểm kinh tế - làng nghề tương đồng.