Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý thuế và pháp luật về quản lý thuế đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội. Chương 2: Thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành về quản lý thuế đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế tại việt nam đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH THỰC HIỆN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI 1.
Những vấn đề lý luận về quản lý thuế 1. Khái niệm quản lý thuế Để làm rõ khái niệm “quản lý thuế” và bản chất của việc “quản lý thuế” thì cần làm rõ một số khái niệm có tính chất tiền đề, trong đó bao gồm khái niệm “thuế” và khái niệm “quản lý”. Đầu tiên, về khái niệm “quản lý” Cho đến thời điểm hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý. Thuật ngữ đó được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu các ngành khoa học khác nhau như: kinh tế học, luật học, xã hội học,… đều sử dụng thuật ngữ quản lý với nội dung phù hợp với đối tượng nghiên cứu của từng chuyên ngành.
Theo từ điển Hán Việt của tác giả Đào Duy Anh, “quản lý” được giải nghĩa là “sắp đặt, chăm nom công việc”1. Tương tự theo Từ điển từ và từ ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân, “quản lý” cũng được giải nghĩa là “chăm nom và sắp đặt công việc trong một tổ chức”.2 Dưới góc độ chung nghiên cứu của các ngành khoa học, “Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước”3. Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam có giải thích: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt 1 Đào Duy Anh (2020), Từ điển Hán Việt, NXB Khoa học Xã hội, trang 154. 2 Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán Việt, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, trang 555.
3 Nguyễn Ngọc Điệp (1999), 1200 Thuật ngữ pháp lý Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, [tr. 8 được mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết phải được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung”.4 Trong pháp luật thực định (bao gồm cả Luật Quản lý thuế mới nhất được ban hành năm 2019), các nhà làm luật cũng không giải thích từ ngữ “quản lý thuế” là gì. Trong khoa học kinh tế và khoa học pháp lý, mặc dù đâu đó đã có những định nghĩa của một số người nghiên cứu về quản lý thuế nhưng đó chỉ là những đinh nghĩa không chính thức.
Vì vậy, thực tế này khiến cho việc nghiên cứu lý thuyết về quản lý thuế trở nên khó khăn hơn. Qua các cách giải thích cho thấy, thuật ngữ quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và một loạt các nhiệm vụ mà người quản lý phải liên tục đảm nhận và giải quyết. Đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra. Ngoài ra khi sử dụng thuật ngữ này người ta còn có hàm ý bao gồm cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của một tổ chức, nghĩa là nói tới quản lý là nói tới kết quả đạt được với chất lượng tốt nhất chứ không phải là những quy trình thực hiện các thao tác kỹ thuật đơn thuần.
Thứ hai, về khái niệm “thuế” và vấn đề bản chất của thuế Trước đây, đã có nhiều trường phái kinh tế cố gắng định nghĩa về bản chất của thuế. Trong khoa học tài chính công ngày nay, người ta phân biệt bản chất về thuế dựa trên quan điểm của trường phái cổ điển hay hiện đại về thuế. Theo trường phái cổ điển về thuế, bản chất của thuế là một khoản tiền trích nộp bằng tiền, có tính bắt buộc, không được bồi hoàn, không có đối khoản trực tiếp và được sử dụng vào mục đích chi tiêu công cộng.5 Với cách tiếp cận này thuế không phải là giá cả của dịch vụ công được Nhà nước cung cấp, do đó người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế bằng cách viện cớ là Nhà nước sử dụng tiền thuế không hiệu quả. Mặt khác, họ cũng không thể đòi hỏi tiền thuế phải được Nhà nước phân bổ cho dịch vụ 4 Nguyễn Ngọc Điệp (1999), 1200 Thuật ngữ pháp lý Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr.
5 Michel Bouvier (2005), tlđđ tr. 9 công này hay dịch vụ công khác hoặc từ chối nộp thuế với lý do số tiền được sử dụng vào những khoản chi tiêu trái với nguyên tắc của nó.6 Trường phái hiện đại về thuế, bản chất thuế không được xem xét là một quyết định hành chính đơn phương của quốc gia, với tính chất bắt buộc, tính không hoàn trả và không có đối khoán, mà thuế được nhìn nhận từ khía cạnh là một quan hệ có tính chất “trao đổi” giữa Nhà nước là người thu thuế và người dân hay cộng đồng doanh nghiệp là người đóng thuế. Với cách tiếp cận này, thuế không nên coi là khoản thu có tính chất cưỡng bức và chỉ có Nhà nước mới có quyền quyết định việc thu thuế như thế nào, sử dụng tiền thuế ra sao, vào việc gì và có hiệu quả hay không. Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có nhà nước và gắn liền với quyền lực nhà nước.
Quản lý thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thuế là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên, hiện nay để quản lý thuế có hiệu quả, ở mức độ nhất định có sự tham gia các tổ chức, cá nhân trong xã hội để hỗ trợ cho công tác quản lý thuế của nhà nước. Qua nghiên cứu sự ra đời, tồn tại và phát triển của thuế cho thấy, thuế là phạm trù kinh tế khách quan luôn gắn liền với sự ra đời của nhà nước. Khi nhà nước xuất hiện, phát sinh nhu cầu chi tiêu, để thoả mãn các nhu cầu chi tiêu, nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để tham gia vào việc phân phối một phần sản phẩm xã hội bằng cách đặt ra chế độ thuế khoá buộc các thành viên trong xã hội phải đóng góp – phương thức động viên tài chính đầu tiên trong lịch sử đó là thuế.
Do yêu cầu chỉ tiêu của nhà nước ngày một tăng, ngoài việc huy động nguồn tài chính từ thuế, nhà nước còn sử dụng một số hình thức huy động khác như phát hành công trái, thu phí, lệ phí,… Nhưng thuế vẫn là hình thức động viên tài chính chủ yếu của các nhà nước trong các chế độ xã hội có nhà nước. Như vậy thuế được sinh ra từ nhà nước, tồn tại 6 Vũ Văn Cương (2009), “Thông tin về Người nộp thuế trong pháp Luật Quản lý thuế ở nước ta hiện nay”, Luật học, Số 4/2009, tr. 10 dựa vào quyền lực nhà nước và nhằm thoả mãn các nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Bởi vậy, ngay từ khi thuế ra đời, việc quản lý thuế đã trở thành hoạt động tất yếu của nhà nước.
Quan hệ nộp thuế không chỉ là quan hệ quyền lực và nghĩa vụ mà nó còn là quan hệ lợi ích phát sinh giữa nhà nước với các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Hoạt động thu thuế của nhà nước còn nhằm mục đích hiện thực hoá các mục tiêu của hệ thống chính sách thuế như: tác động đến thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế, điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng dẫn tiêu dùng và điều hoà thu thập dân cư đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội. Tầm quan trọng và tính chất đặc biệt của thuế, do đó, nhà nước luôn luôn phải tìm ra phương thức quản lý sao cho có hiệu quả nhất để nhằm đạt được mục tiêu và phát huy tối đa vai trò của thuế trong đời sống thực tiễn. Nếu nhà nước không quản lý hoặc quản lý kém hiệu quả đều gây ra hệ qủa xấu cho nhà nước và cho toàn xã hội.
Chính vì lẽ đó, quản lý thuế là hoạt động cần thiết, quan trọng luôn được nhà nước và cả xã hội quan tâm. Qua nghiên cứu, tìm hiểu lý thuyết về quản lý thuế cho thấy, có hai luồn quan điểm, ý kiến khác nhau về khái niệm và bản chất của quản lý thuế. Quan điểm này thể hiện cách tiếp cận quản lý thuế theo nghĩa rộng. Quản lý thuế không chỉ bao gồm hoạt động tổ chức điều hành quá trình thu nộp thuế vào ngân sách nhà nước, mà còn xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành pháp luật thuế và cả hoạt động kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền thuế của các tổ chức thụ hưởng ngân sách nhà nước.
Quan điểm này được thể hiện khá rõ ràng trong Luật Quản lý thuế 2019, theo đó Khoản 3 Điều 5 quy định một trong những nguyên tắc quản lý thuế là: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế theo quy 11 định của pháp luật”.7 Về chủ thể quản lý thuế, không chỉ là cơ quan nhà nước mà còn bao gồm nhiều chủ thể khác như các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tư pháp, các tổ chức đoàn thể xã hội, mọi doanh nghiệp và cá nhân, trong đó bao gồm cả những người trực tiếp nộp thuế cho nhà nước. Về đối tượng quản lý thuế, không chỉ là hoạt động đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế của người nộp thuế mà còn bao gồm cả hoạt động hành thu thuế, giải quyết khiếu nại về thuế, xét miễn giảm thuế, hoàn thuế hay truy thu thuế của các cơ quan nhà nước và công chức có thẩm quyền trong quá trình thực thi công vụ. (ii) Quan điểm thứ hai cho rằng, quản lý thuế là hoạt động quản lý nhà nước về thuế, do cơ quan thuế và các cơ quan hành chính nhà nước khác thực hiện với tư cách là chức năng quản lý hành chính của nhóm chủ thể này. Quan điểm này thể hiện cách tiếp cận quản lý thuế theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm hoạt động quản lý hành chính về thuế của cơ quan hành chính nhà nước.