phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 4 chương. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Phương pháp nghiên cứu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chương 3.
Đánh giá thực trạng quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại huyện Quế Võ. Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở huyện Quế Võ. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Khái niệm và vai trò quan trọng của thuế và quản lý thuế 1.
Khái niệm về thuế và vai trò của thuế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 1. Khái niệm về thuế Thuế là khoản đóng góp theo luật định của người nộp thuế cho Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật định. Đặc điểm này được thể chế hóa trong hiến pháp của mỗi quốc gia.
Nhà nước dùng quyền lực và sức mạnh để ấn định các sắc thuế, bắt buộc các tổ chức kinh tế và công dân thực hiện các nghĩa vụ thuế để nhà nước có nguồn thu ổn định, thường xuyên đảm bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động thường xuyên của Nhà nước mà vẫn ổn định được Ngân sách Nhà nước (NSNN). Vai trò của thuế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Thứ nhất: Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Một ngân sách lành mạnh trước hết phải dựa vào nguồn thu trong nước, mà trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu (từ 80 đến 90%). Nguồn thu của thuế lấy từ thu nhập quốc dân sản xuất, khả năng động viên của thuế phụ thuộc cơ bản vào sự phát triển và hiệu quả sản xuất, trình độ và ý thức tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng của DN và người dân. Vì vậy, chính sách động viên về thuế phải được đặt trong mối quan hệ chung theo hướng xóa bỏ các khoản chi bao cấp, không tận thu để đảm bảo chi, phải thu đúng thu đủ nhằm bồi dưỡng phát triển nguồn thu lâu dài trên nguyên tắc phân phối hợp lý thu nhập quốc dân giữa nhà nước và xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Muốn vậy hệ thống thuế và chính sách thuế mới phải được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế, phải bao quát được hết hết các hoạt động SXKD, các nguồn thu nhập của DN và xã hội để đảm bảo yêu cầu vốn, thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao hơn. Thứ hai: Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của nền kinh tế Thuế không chỉ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN hằng năm mà còn là công cụ của Nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Để phát huy tốt tác dụng điều tiết vĩ mô của chính sách thuế, nhìn chung ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới, nội dung của chính sách thuế thường xuyên thay đổi cho phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế xã hội và phù hợp với tình hình kinh tế, tài chính. Các sắc thuế đang áp dụng chủ yếu hiện đang được áp dụng gồm có: Thuế GTGT, TTNDN, thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, thuế môn bài.
Với hệ thống thuế rõ ràng, ổn định, các nhà đầu tư có thể xác định, các nhà đầu tư có thể xác định được hiệu quả đầu tư vốn của mình sau khi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước. Họ sẽ so sánh, tính toán và lựa chọn lĩnh vực đầu tư vào những ngành, những vùng có lợi nhất. Một chính sách thuế phù hợp sẽ thu hút được các nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực cần ưu tiên, khuyến khích đầu tư vào những vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn. Thứ ba: Thuế góp phần tạo môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế Việc áp dụng chính sách thuế thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước đã góp phần tạo nên sân chơi bình đẳng, thúc đẩy cạnh tranh và khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước góp phần tạo ra sân chơi bình đẳng thúc đẩy cạnh tranh và khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế.
Trong quá trình triển khai thực hiện, chính sách thuế luôn được điều chỉnh linh hoạt, kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này thể hiện rõ nét qua một số sắc thuế sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 - Luật thuế GTGT được ban hành thay thế luật thuế doanh thu đã góp phần giảm chi phí SXKD, hạ giá thành sản phẩm, tránh đánh thuế trùng lắp, góp phần thúc đẩy SXKD của các DN đặc biệt là các DN lớn. - Luật TTNDN được ban hành thay thế luật thuế lợi tức với một mức thuế suất thống nhất đã khuyến khích các DN thuộc mọi thành phần kinh tế tăng cường đầu tư phát triển SXKD. Chính sách thuế TNDN hiện nay của Việt Nam đã khá tương đồng với chuẩn mực quốc tế.
Thứ tư: Thuế góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thuế phục vụ định hướng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ cung cầu của thị trường. Có nhu cầu tất yếu đòi hỏi phải phát triển sản xuất, dịch vụ để cung ứng đủ nhu cầu và ngược lại. Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là làm tăng tổng cung gắn với kích cầu để quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt kết quả tốt.
Tổng cầu tăng hay giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, chủ yếu là thu nhập của các tầng lớp dân cư, giá cả từng sản phẩm, cơ cấu hàng hóa trên thị trường. Ảnh hưởng của chính sách thuế thông qua các mức thuế, các chế độ miễn giảm, các chế độ quản lý thu thuế khác nhau có vai trò quan trọng đến việc tạo nên tổng cầu theo hai hướng, khuyến khích phát triển hay hạn chế. Thuế cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cung của thị trường. Đó là việc đánh thuế cao hay thấp và các yếu tố sản xuất, tiêu dùng, thu nhập.
Bên cạnh sự can thiệp của thuế vào cả hai lĩnh vực cung và cầu, chính sách thuế cũng có tác động đến lạm phát trong nền kinh tế, cũng có nghĩa là can thiệp vào môi trường chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phục vụ yêu cầu tài trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vai trò tích cực của thuế đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn có thể xem xét ở góc độ tài trợ. Đối với các nước đang phát triển, vấn đề tài trợ của thuế được coi là cú hích ban đầu hết sức quan trọng của Nhà nước để hành thành cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ. Tài trợ từ thuế được thực hiện bằng phương pháp: trực tiếp hay gián tiếp.
Một là, thực hiện các thuế suất đặc biệt, cho miễn giảm thuế nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế có thêm thu nhập để giải quyết yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 Hai là, qua nguồn thu tăng nhiều từ thuế, Nhà nước có thêm vốn ban đầu cho các địa phương, vùng lãnh thổ có khó khăn trong việc thực hiện các chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc tài trợ cho các trường dạy nghề để người lao động có trình độ thấp đáp ứng được yêu cầu phục vụ các ngành cần trình độ kỹ thuật cao được hình thành trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thuế góp phần phân bổ lại nguồn lực nhằm thực hiện tốt chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Việc thiết kế và xây dựng hệ thống chính sách thuế có phân biệt theo ngànhh vùng khác nhau, Nhà nước có thể thúc đẩy phát triển nhiều ngànhh kinh tế mũi nhọn then chốt và các vùng kinh tế trọng điểm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Khái niệm về quản lý thuế và tính tất yếu khách quan vai trò Nhà nước về quản lý thu thuế 1. Khái niệm về quản lý thuế Quản lý thu thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Nói cách khác, quản lý thu thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện môi trường quản lý luôn biến động. Tính tất yếu khách quan vai trò Nhà nước về quản lý thuế Thứ nhất, vai trò Nhà nước về quản lý thu thuế nhằm tạo ra khuôn khổ pháp lý về thuế.
Thứ hai, vai trò Nhà nước về quản lý thu thuế góp phần làm giảm những khuyết tật của kinh tế thị trường. Thứ ba, vai trò Nhà nước về quản lý thu thuế nhằm tạo ra "sân chơi" bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 Thứ tư, do đặc điểm thuế là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế người đóng thuế không phải để nhận lại của nhà nước mà là nghĩa vụ đóng góp chung chứ không phải tự nguyện. Thứ năm, hiện nay chúng ta đã hội nhập đầy đủ toàn diện với kinh tế quốc tế do đó để đảm bảo yêu cầu đòi hỏi về tính phù hợp với các điều ước và thông lệ quốc tế về chính sách tài chính, đồng thời tạo điều kiện tối đa cho cho người nộp thuế trong việc kê khai nộp thuế thì đòi hỏi Nhà nước mà đại diện là cơ quan thuế phải nâng cao vai trò của mình trong quản lý thuế.
Một số vấn đề cơ bản về quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.