CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Thuế BVMT đã được các học giả trên thế giới nghiên cứu từ cuối những năm 1990, và nở rộ trong 2 thập niên gần đây. Các nghiên cứu chủ yếu chú trọng phân tích về vai trò và tác động của thuế BVMT. Từ năm 2010 đến nay, các nghiên cứu nước ngoài tập trung vào việc hoàn thiện và đổi mới thuế BVMT về thực tiễn.
Các nghiên cứu tiêu biểu gồm: 1. Các nghiên cứu về thuế và thuế bảo vệ môi trường - YipChi Man (2018), “On the labor market consequences of environmental taxes”, Journal of Environmental Economics and Management, Volume 89, Pages 136-152. Nghiên cứu “Hậu quả thị trường lao động của thuế môi trường”chỉ ra tác động của thuế BVMT đến thị trường lao động một quốc gia. Cụ thể, nghiên cứu chú trọng phân tích và đánh giá ảnh hưởng của thuế BVMT đối với thị trường lao động trong các ngành sản xuất sử dụng nhiều năng lượng.
Trong đó, tác giả cho rằng việc đánh thuế BVMT nhiều hơn đối với thị trường lao động phổ thông tại các doanh nghiệp này là không hoàn toàn hợp lý. Điều này sẽ dẫn tới tình trạng thất nghiệp, đặc biệt là các lao động nam có trình độ học vấn trung bình. Bằng chứng cho thấy tình trạng thất nghiệp của bộ phận nam giới có trình độ học vấn thấp ngày càng gia tăng tại một số quốc gia trên thế giới do mức thuế BVMT áp dụng cho vị trí công việc của họ cao khiến họ chán nản và quyết định rời khỏi lực lượng lao động. Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả cho rằng các quốc gia cần cân nhắc việc đánh thuế BVMT đối với các ngành sản xuất sử dụng nhiều năng lượng bởi điều này ảnh hưởng lớn đến thị trường lao động các ngành này.
- OueslatiWalid (2015), “Growth and welfare effects of environmental tax reform and public spending policy”, Economic Modelling, Volume 45, Pages 1-13. Nghiên cứu“Tác động tăng trưởng và phúc lợi của cải cách thuế môi trường và chính sách chi tiêu công”phân tích tác động của thuế BVMT đến tăng trưởng và các phúc lợi xã hội của một quốc gia. Cụ thể, tác giả cho rằng cải cách thuế BVMT và chính sách chi tiêu công tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Tác giả sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh hai ngành trong đó tính đến các tương tác giữa lĩnh vực y tế, giáo dục và môi trường.
Từ đó, tác giả nhận thấy cải cách thuế 10 BVMT tác động tích cực thay đổi cơ cấu chi tiêu công giúp cải thiện tăng trưởng và phúc lợi dài hạn. Tuy nhiên, điều này dẫn đến chi phí phúc lợi tương đối cao trong giai đoạn chuyển tiếp.Hơn nữa, giảm thuế trên tiền lương có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, mạnh hơn là giảm thuế trên lợi nhuận. Ngoài ra, phúc lợi xã hội cũng phụ thuộc vào các nhân tố khác, như chi tiêu cho giáo dục;mặt khác giảm ô nhiễm cũng tác động tích cực đến tích lũy vốn nhân lực. Khi cải cách thuế BVMT gắn liền với sự thay đổi trong cơ cấu chi tiêu công, tác động đến tăng trưởng và phúc lợi vẫn tích cực, nhưng với mức độ thay đổi.
- Abdullah Sabah, Morley Bruce (2014), “Environmental taxes and economic growth: Evidence from panel causality tests”, Energy Economics, Volume 42, Pages 27-33. Nghiên cứu“Thuế môi trường và tăng trưởng kinh tế: bằng chứng từ các bài kiểm tra nhân quả”nhằm mục đích xác định rõ tác động của thuế BVMT đến tăng trường kinh tế. Cụ thể, các tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa thuế BVMT và tăng trưởng kinh tế thông qua sử dụng các biện pháp khác nhau về thuế BVMT với GDP cũng như tiết kiệm ròng được điều chỉnh. Kết quả cho thấy một số bằng chứng về quan hệ dài hạn giữa tăng trưởng kinh tế và tăng doanh thu từ thuế BVMT, tuy nhiên cũng có một số bằng chứng về mối quan hệ ngắn hạn theo hướng ngược lại.
Nhìn chung, dân số và chính sách trợ cấp kinh tế ít ảnh hưởng đến mối quan hệ dài hạn giữa tăng trưởng kinh tế và tăng doanh thu từ thuế BVMT, mặc dù chính sách trợ cấp có một số tác động ngắn hạn đối với tăng trưởng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tác động dài hạn của GDP và tiết kiệm được điều chỉnh ròng đối với thuế BVMT và vận tải. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng về quan hệ dài hạn theo hướng khác với dữ liệu thuế BVMT và giao thông của EU hoặc OECD. Kết quả này không thay đổi đáng kể khi các nhân tố khác được xem xét, chẳng hạn như dân số và chính sách trợ cấp môi trường.
- OueslatiWalid (2014), “Environmental tax reform: Short-term versus long- term macroeconomic effects”, Journal of Macroeconomics, Volume 40, Pages 190-201. Nghiên cứu“Cải cách thuế môi trường: Tác động kinh tế vĩ mô ngắn hạn so với dài hạn” xem xét các tác động kinh tế vĩ mô của thuế BVMT trong một nền kinh tế đang phát triển. Một mô hình tăng trưởng nội sinh dựa trên tích lũy vốn nhân lực được sử dụng để mô phỏng số lượng các tác động tăng trưởng của những cải cách thuế BVMT khác nhau và tính toán tác động của chúng đối với phúc lợi trong ngắn hạn và dài hạn. Kết quả cho thấy mức độ tác động phụ thuộc vào loại cải cách thuế và sự hiện 11 diện của chi phí điều chỉnh cho đầu tư.
Mặc dù, cải cách thuế xanh nhằm mục đích sử dụng nguồn thu từ thuế BVMT để giảm thuế đối với tiền lương luôn cải thiện tăng trưởng, hiệu quả phúc lợi dài hạn của thuế phụ thuộc vào chi phí điều chỉnh vốn. Hơn nữa, hiệu quả phúc lợi ngắn hạn luôn luôn là tiêu cực đối với bất kể kịch bản cải cách thuế nào tại các nền kinh tế đang phát triển. - LiuAntung Anthony (2013), “Tax evasion and optimal environmental taxes”, Journal of Environmental Economics and Management, Volume 66, Issue 3, Pages 656-670. Nghiên cứu về“Trốn thuế và thuế môi trường tối ưu”chỉ ra tác động của thuế BVMT đến kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Đặc biệt, tác giả đưa ra lập luận mới về tác động của một số hành vi liên quan đến thuế BVMT. Tác giả cho rằng một số thuế BVMT, đặc biệt là thuế đối với xăng hoặc điện, khó trốn hơn thuế đối với lao động hoặc thu nhập. Khi cơ sở thuế được thay đổi theo cách trung lập về doanh thu đối với các loại thuế BVMT này, kết quả là làm giảm đáng kể số tiền trốn thuế. Sử dụng thuế carbon làm ví dụ,tình trạng trốn thuế được chứng minh là làm giảm mạnh các chi phí phục vụ cho việc kiểm soát khí thải, từ đó ảnh hưởng đến tình hình vĩ mô chung, đặc biệt là tại các quốc gia có mức độ trốn thuế cao.Nhóm tác giả đã phát hiện sự thay đổi trung lập về doanh thu đối với thuế BVMT có thể có chi phí cực kỳ thấp hoặc tiêu cực, ngay cả khi thuế carbon được thực hiện.
Đồng thời, nghiên cứu đã xem xét cẩn thận vấn đề trốn thuế khi thiết kế thuế carbon. - Wiesmeth Hans (2013), Environmental Economics: Theory and Policy in Equilibrium, Springer-Verlag Berlin and Heidelberg GmbH & Co. KG Nghiên cứu“Kinh tế môi trường: Lý thuyết và chính sách cân bằng” đã nêu lên các nội dung quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề môi trường bằng các công cụ kinh tế, đặc biệt là vai trò của thuế BVMT trong việc kiểm soát các vấn đề kinh tế. Cụ thể, nghiên cứu đã chỉ rõ ở một mức độ nhất định, suy thoái môi trường là kết quả của các hoạt động kinh tế, cho nên mâu thuẫn giữa kinh tế và sinh thái được xem là hiển nhiên.
Để giải quyết vấn đề này, việc sử dụng công cụ thuế BVMT có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế và môi trường của các quốc gia. Chính bởi vậy, trong nghiên cứu này, tác giả đã tập trung giải thích vai trò của thuế BVMT, đồng thời thực hiện các phân tích chuyên sâu về phương pháp cân bằng đối với kinh tế môi trường. Nghiên cứu thảo luận sự cần thiết phải có các cơ chế áp dụng thuế BVMT phù hợp, ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế, để giải quyết các vấn đề môi trường. Ngoài ra, nghiên cứu tiến hành một cuộc khảo sát để làm rõ vấn đề này.
Theo kết quả khảo sát của nghiên cứu này, các chính sách môi trường hiện tại trên thế giới khá đa dạng, gồm các quy định, công cụ và các cuộc đàm phán liên quan 12 đến môi trường, ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế, trong đó thuế BVMT có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, sự hiểu biết đầy đủ về kinh tế môi trường và vai trò của thuế BVMT cần được đẩy mạnh hơn nữa trong việc ban hành các chính sách môi trường tại các quốc gia. - Böcher Michael (2012), “A theoretical framework for explaining the choice of instruments in environmental policy”, Forest Policy and Economics, Volume 16, Pages 14-22. Nghiên cứu“Khung lý thuyết để giải thích sự lựa chọn các công cụ trong chính sách môi trường”bằng việc tập trung nghiên cứu vai trò của thuế BVMT và chính sách nhà nước về thuế BVMT tại Đức, nghiên cứu chia quá trình cải cách chính sách nhà nước về thuế BVMT ở Đức thành hai giai đoạn chính.
Trong giai đoạn đầu tiên, nhìn chung, ý tưởng về chính sách cải cách thuế BVMTđã được hình thành sau khi cấu trúc chính sách môi trường được thay đổi. Nhờ vậy, một liên minh bao gồm những người ủng hộ thuế BVMT được hình thành và chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển thể chế trong bối cảnh Liên minh Châu Âu. Như vậy, trong giai đoạn này, vai trò của thuế BVMT đã được nhìn nhận một cách đầy đủ. Trong giai đoạn thứ hai, trọng tâm của quy trình cải cách chính sách đã chuyển sang các cấu hình phân phối.
Lợi ích và quyền lực trở nên quan trọng hơn, và điều này đã làm giảm khả năng thay đổi chính sách môi trường. Các nhân tố thể chế liên quan đến hệ thống chính trị Đức đã phân định phạm vi lựa chọn thực tế mà các chủ thể chính sách có thể đưa ra liên quan đến chính sách môi trường. Nhìn chung, ở giai đoạn này, thuế BVMT chưa được nhìn nhận đúng với vai trò của nó, việc ra quyết định của các chủ thể chính trị đối với thuế BVMT ở mức độ không cao. Nhìn chung, trong nghiên cứu này, tác giả đã tập trung nhấn mạnh vai trò của thuế BVMT trong chính sách môi trường của các quốc gia.