Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý thu thuế xuất khẩu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý thu thuế xuất khẩu tại Chi cục Hải quan Yên Bái giai đoạn 2012 – 2016 Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện thu thuế xuất khẩu tại Chi cục Hải quan Yên Bái giai đoạn 2018 – 2025. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT KHẨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về vấn đề quản lý thu thuế XNK của ngành hải quan như: Đề tài: “Tiếp tục cải cách, hiện đại hoá Hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Nguyễn Ngọc Túc, Đại học Ngoại thương, năm 2007; Đề tài: “Các giải pháp tăng cường quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Nguyễn Danh Hưng, Học viện Tài chính, năm 2004; Đề tài: “Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan TP. Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ Quản lý Kinh tế của tác giả Lục Văn Trường, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016.
Đề tài: “Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Cửa khẩu Sân bay Quốc tế Nội Bài”, Luận văn thạc sĩ Quản lý Kinh tế của tác giả Phạm Vĩnh Hải, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015; Đề tài: “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, nhập khẩu theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế của tác giả Trần Thu Trang, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012; Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến công tác quản lý Nhà nước của ngành hải quan, vai trò của cơ quan hải quan, về quản lý thu thuế XK có liên quan đến đề tài. Tuy nhiên, mỗi địa phương có đặc thù, điều kiện địa lý kinh tế - xã hội khác nhau, do đó công tác quản lý và sử dụng yếu tố con người khác nhau. Mặt khác, các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước về hải quan mang tính chất tổng thể, chưa có công trình nào 5 z nghiên cứu về quản lý thu thuế XK tại Chi cục Hải quan Yên Bái về phương diện lý luận và thực tiễn nhằm tìm ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế XK trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của xu thế hội nhập quốc tế. Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế xuất khẩu 1.
Thuế xuất khẩu 1. Khái niệm về thuế Trên góc độ kinh tế học: Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước. Trên góc độ phân phối thu nhập, thuế được định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Trên góc độ người nộp thuế: Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Theo những cách nhìn nhận trên thì: Thuế là một hình thức huy động bắt buộc của nhà nước, thuộc phạm trù phân phối nhằm tập trung một bộ phận nguồn lực của cải xã hội vào NSNN để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước thích ứng từng giai đoạn phát triển của đời sống kinh tế - xã hội. Khái niệm hoạt động xuất khẩu Hoạt động XK là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động XK là khai thác được lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
6 z Hoạt động XK là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển. Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ XK hàng tiêu dùng cho đến hàng hoá tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả hoạt động đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi nhuận cho các quốc gia tham gia. XK là một trong những hình thức kinh doanh quan trọng nhất của hoạt động thương mại quốc tế.
Nó có thể diễn ra trong một hai ngày hoặc kéo dài hàng năm, có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Khái niệm thuế xuất khẩu Tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế XK. Nếu xét về phương diện kinh tế, thuế XK là khoản đóng góp bằng tiền của các tổ chức, cá nhân vào NSNN theo quy định của pháp luật khi họ có hành vi XK hàng hoá qua biên giới của một nước. Thuế XK còn là đòn bẩy kinh tế để nhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi của mỗi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn cầu.
Nếu xét về phương diện pháp lý, thuế XK là quan hệ phát sinh giữa nhà nước (là người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế) về việc tạo lập các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hình thành thu thuế XK. Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế xuất, nhập khẩu do Quốc hội ban hành mà hậu quả pháp lý chủ yếu của việc áp dụng đạo luật đó trong thực tiễn là làm phát sinh quyền thu thuế cho nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế cho các tổ chức, cá nhân người nộp thuế. Dưa vào những góc độ tiếp cận trên có thể đưa ra khái niệm về thuế xuất khẩu như sau: “Thuế xuất khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay 7 z vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ trong nước XK sang quốc gia hay vùng lãnh thổ khác”. Đặc điểm thuế xuất khẩu Thứ nhất, thuế XK mang tính quyền lực nhà nước; thuế XK có sự gắn bó mật thiết không thể tách rời với Nhà nước, Nhà nước cần có thuế XK để đáp ứng phần nào nhu cầu chi tiêu của mình; Nhà nước là người duy nhất có quyền đặt ra thuế XK một mặt để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mặt khác qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động XK hàng hoá và bảo hộ nền sản xuất trong nước.
Thứ hai, thuế XK là loại thuế chỉ gắn liền với hoạt động ngoại thương, vì thuế XK đánh vào hàng hoá giao thương qua các biên giới quốc gia, nhóm quốc gia, hình thành và gắn liền với các hoạt động thương mại quốc tế. Thứ ba, mang tính pháp lý cao, là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo. Thứ tư, chứa đựng các yếu tố kinh tế - xã hội, chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố quốc tế như sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế. Điều đó được thể hiện ở chỗ thuế XK là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế thuế XK vào NSNN phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ cũng như các hiệp định thương mại song phương, đa phương.
Thuế XK còn có đặc điểm riêng là: - Thuế XK chỉ đánh vào hàng hoá được phép xuất XK qua biên giới của một nước. - Thuế thuế XK là một loại thuế gián thu bởi vì thuế được cấu thành trong giá cả hàng hoá XK, người chịu thuế là người tiêu dùng hàng XK đó, 8 z Nhà nước thu thuế XK của người tiêu dùng gián tiếp thông qua người cung cấp hàng hoá XK. - Trong điều kiện nền kinh tế của các nước đang phát triển như Việt Nam, nguồn thu NSNN từ các sắc thuế nội địa chưa đảm bảo, nhu cầu XK hàng hóa lớn, thì thuế XK là một nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN, bởi vì thuế XK nằm trong giá cả hàng XK nên số thuế XK thu được tăng tỷ lệ thuận với quy mô hàng hoá XK. - Thuế XK không phân biệt đối tượng chịu thuế là người như thế nào (giàu hay nghèo), nếu XK cùng một loại hàng thì số thuế phải nộp như nhau.
Vai trò thuế xuất khẩu Một là, thuế XK là nguồn thu quan trọng của NSNN. Hai là, thuế XK là công cụ kiểm soát hoạt động ngoại thương của đất nước. Ba là, thuế XK góp phần bảo hộ và phát triển nền sản xuất trong nước. Bốn là, thuế XK sẽ giúp nhà nước cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế xuất khẩu Đối tượng chịu thuế bao gồm: - Hàng hóa XK qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam. - Hàng hóa XK từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan. - Hàng hóa XK tại chỗ và hàng hóa XK của doanh nghiệp thực hiện quyền XK. Người nộp thuế là: - Chủ hàng hóa XK.
- Tổ chức nhận ủy thác XK. - Người xuất cảnh có hàng hóa XK, gửi hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam. 9 z - Người được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thuế XK thay cho người nộp thuế, bao gồm: + Đại lý làm thủ tục hải quan trong trường hợp được người nộp thuế ủy quyền nộp thuế XK. + Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trong trường hợp nộp thuế XK thay cho người nộp thuế.
+ Tổ chức tín dụng hoặc tổ chức tín dụng khác hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng trong trường hợp bảo lãnh, nộp thuế XK thay cho người nộp thuế.