Luận văn: Thực trạng quản lý thu thuế hộ kinh doanh tại huyện Thanh Oai

Luận văn phân tích thực trạng quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể tại huyện, chỉ ra khó khăn và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Lợi

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2015-2018 (Dữ liệu phân tích), 2020-2025 (Giải pháp đề xuất)

116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ

1.1. Những vấn đề cơ bản về thuế và hộ kinh doanh cá thể

1.1.1. Khái niệm, chức năng và vai trò của thuế

1.1.2. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể

1.1.3. Các sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ kinh doanh cá thể

1.2. Quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể

1.2.1. Khái niệm, mục tiêu quản lý thu thuế

1.2.2. Các nội dung quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể

1.3. Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý thu thuế

1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể

1.4.1. Nhân tố khách quan

1.4.2. Các nhân tố chủ quan

1.5. Bài học kinh nghiệm về công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể

1.5.1. Bài học kinh nghiệm của Chi cục thuế huyện Thường Tín, Hà Nội

1.5.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Thanh Oai về công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể

1.6. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

1.7. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐIA BÀN HUYỆN THANH OAI, TP HÀ NỘI

2.1. Giới thiệu về huyện Thanh Oai và hoạt động quản lý thu thuế tại địa bàn huyện Thanh Oai, TP Hà Nội

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội

2.1.3. Tình hình hoạt động của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Thanh Oai, TP Hà Nội

2.1.4. Khái quát về chi cục thuế huyện Thanh Oai

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Thanh Oai, TP Hà Nội

2.2.1. Nhân tố thuộc về cơ quan thuế

2.2.2. Nhân tố thuộc về bản thân hộ cá thể

2.2.3. Nhân tố khác

2.3. Thực trạng quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Thanh Oai giai đoạn 2015-2018

2.3.1. Thực trạng quản lý các thủ tục hành chính thuế hộ kinh doanh cá thể

2.3.2. Thực trạng giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế

2.3.3. Thực trạng quản lý quy trình thu thuế

2.4. Đánh giá công tác quản lý thu thuế tại huyện Thanh Oai theo các tiêu chí đánh giá chung về công tác quản lý thu thuế

2.4.1. Kết quả thực hiện dự toán thu thuế

2.4.2. Quản lý đối tượng nộp thuế, doanh thu tính thuế

2.4.3. Chỉ tiêu quản lý thu thuế nợ đọng

2.4.4. Chi tiêu thanh tra, kiểm tra thuế hộ kinh doanh

2.4.5. Chỉ tiêu về sự hài lòng người nộp thuế

2.5. Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Thanh Oai theo các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thu thuế

2.5.1. Những kết quả đã đạt được

2.5.2. Một số hạn chế, nguyên nhân những hạn chế

2.6. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1. Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội huyện Thanh Oai giai đoạn 2020 - 2025

3.2. Mục tiêu, định hướng về quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Thanh Oai

3.3. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Thanh Oai trong giai đoạn 2020- 2025

3.4. Một số giải pháp tăng cường quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế huyện Thanh Oai

3.4.1. Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý thu thuế

3.4.2. Nâng cao năng lực và đạo đức cán bộ thuế

3.4.3. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế

3.4.4. Tăng cường công tác quản lý nợ thuế hộ kinh doanh

3.4.5. Tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế hộ kinh doanh

3.4.6. Chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thu thuế

3.5. Một số kiến nghị

3.6. Kết luận chương 3

Tóm tắt

I. Toàn cảnh về công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh

Công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh đóng vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước và tạo môi trường kinh doanh công bằng. Hộ kinh doanh cá thể, với số lượng lớn và không ngừng gia tăng, là một thành phần kinh tế quan trọng, góp phần giải quyết việc làm và thúc đẩy lưu thông hàng hóa, dịch vụ. Theo nghiên cứu của Hà Thanh Thảo, khu vực này có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng thu nhập và đóng góp ngân sách, dù tỷ trọng đóng góp chưa cao. Việc quản lý hiệu quả nguồn thu từ khu vực này không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan thuế mà còn là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương. Một hệ thống quản lý minh bạch, hiệu quả sẽ khuyến khích các hộ kinh doanh thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, đồng thời hạn chế tối đa tình trạng thất thu thuế. Quy trình quản lý bao gồm nhiều khâu phức tạp, từ đăng ký, kê khai, xác định doanh thu, ấn định thuế cho đến thu nộp và xử lý nợ đọng. Mỗi khâu đều đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn liên quan. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời vào ngân sách, đồng thời hỗ trợ đối tượng nộp thuế phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh một cách bền vững. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề ra các giải pháp cải tiến là yêu cầu cấp thiết, giúp ngành thuế đối mặt với những thách thức trong bối cảnh kinh tế số và hội nhập.

1.1. Vai trò và các sắc thuế chính của hộ kinh doanh cá thể

Hộ kinh doanh cá thể là một thực thể kinh tế do một cá nhân hoặc một hộ gia đình làm chủ, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản đối với hoạt động kinh doanh. Vai trò của loại hình này rất quan trọng, đặc biệt trong việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và là kênh phân phối hàng hóa, dịch vụ nhanh chóng đến người tiêu dùng. Các hộ kinh doanh phải thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước thông qua các sắc thuế chính. Phổ biến nhất là Lệ phí Môn bài, một khoản thu hàng năm dựa trên vốn đăng ký hoặc doanh thu. Tiếp theo là thuế giá trị gia tăng (GTGT), tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu với các tỷ lệ phần trăm khác nhau cho từng ngành nghề. Cuối cùng là thuế thu nhập cá nhân (TNCN), cũng được tính theo tỷ lệ trên doanh thu. Một số hộ kinh doanh các mặt hàng đặc biệt còn phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt. Việc nắm rõ các sắc thuế này là nền tảng để công tác quản lý và tuân thủ pháp luật được thực hiện hiệu quả.

1.2. Mục tiêu cốt lõi của công tác quản lý thu thuế

Mục tiêu hàng đầu của quản lý thu thuế hộ kinh doanh là đảm bảo hoàn thành dự toán thu ngân sách nhà nước được giao. Đây là chỉ tiêu pháp lệnh, quyết định tính chủ động trong điều hành và quản lý tài chính quốc gia. Mục tiêu thứ hai là đảm bảo các văn bản pháp luật về thuế, đặc biệt là Luật Quản lý thuế, được thực thi nghiêm chỉnh, tạo sự công bằng giữa các đối tượng nộp thuế. Thứ ba, công tác quản lý phải phát huy vai trò điều tiết vĩ mô của thuế, khuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh theo định hướng của nhà nước, hạn chế các tác động tiêu cực và góp phần ổn định kinh tế - xã hội. Việc đạt được các mục tiêu này đòi hỏi cơ quan thuế phải có một quy trình quản lý khoa học, minh bạch và hiệu quả, từ khâu tuyên truyền chính sách đến thanh tra thuế, kiểm tra thuế.

II. Phân tích thực trạng quản lý thu thuế hộ kinh doanh

Thực trạng quản lý thu thuế hộ kinh doanh tại nhiều địa phương vẫn còn tồn tại nhiều bất cập và thách thức lớn. Nghiên cứu tại huyện Thanh Oai giai đoạn 2015-2018 cho thấy, dù đã có nhiều nỗ lực, công tác quản lý vẫn đối mặt với khó khăn do số lượng hộ kinh doanh lớn, quy mô nhỏ lẻ và thường xuyên biến động. Tình trạng hộ kinh doanh tự ý nghỉ, bỏ kinh doanh mà không khai báo với cơ quan thuế vẫn còn phổ biến, gây khó khăn cho việc quản lý và dẫn đến nợ đọng thuế. Một trong những thách thức lớn nhất là xác định doanh thu khoán. Do phần lớn các hộ kinh doanh cá thể không thực hiện chế độ sổ sách kế toán đầy đủ, việc xác định mức thuế khoán chủ yếu dựa vào kê khai của hộ và điều tra của cán bộ thuế, dễ dẫn đến tình trạng không phản ánh đúng thực tế, gây thất thu thuế. Hơn nữa, ý thức tuân thủ pháp luật của nhiều hộ kinh doanh còn hạn chế, một bộ phận vẫn có tâm lý muốn trốn thuế. Việc áp dụng công nghệ thông tin dù đã được triển khai nhưng chưa thực sự đồng bộ, hiệu quả. Quy trình quản lý hành chính đôi khi còn phức tạp, tốn thời gian, chưa tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người nộp thuế. Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả thu ngân sách mà còn tạo ra sự thiếu công bằng trong môi trường kinh doanh, đòi hỏi phải có những giải pháp căn cơ và đồng bộ.

2.1. Bất cập trong quản lý thủ tục hành chính thuế

Công tác quản lý các thủ tục hành chính như đăng ký thuế, kê khai thuế và miễn giảm thuế vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề. Theo dữ liệu từ Chi cục thuế Thanh Oai, việc quản lý hộ mới ra kinh doanh và hộ nghỉ kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều hộ không đăng ký kinh doanh hoặc thay đổi địa điểm, ngành nghề mà không thông báo, khiến việc cập nhật dữ liệu của chi cục thuế bị chậm trễ. Quy trình kê khai thuế khoán một lần mỗi năm, dù đơn giản, nhưng việc xác định doanh thu để ấn định thuế lại rất phức tạp. Bảng 2.3 trong luận văn của Hà Thanh Thảo cho thấy sự biến động lớn về số hộ ghi thu, chứng tỏ công tác quản lý, rà soát đối tượng chưa thực sự ổn định. Quá trình xét duyệt miễn, giảm thuế cho các hộ tạm nghỉ kinh doanh đôi khi còn chậm, gây phiền hà cho người nộp thuế. Đây là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ thông qua cải cách hành chính thuế.

2.2. Thách thức từ ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế

Một trong những rào cản lớn nhất trong quản lý thu thuế hộ kinh doanh là ý thức tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế còn thấp. Nghiên cứu chỉ ra rằng, phần lớn chủ hộ kinh doanh có trình độ nhận thức về pháp luật thuế hạn chế, chưa hiểu rõ nghĩa vụ thuế của mình. Nhiều hộ có xu hướng kê khai doanh thu thấp hơn thực tế để giảm số thuế phải nộp. Tình trạng không xuất hóa đơn khi bán hàng, sử dụng hóa đơn không hợp pháp vẫn còn tồn tại. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ tâm lý coi việc nộp thuế là gánh nặng thay vì trách nhiệm. Bên cạnh đó, một số trường hợp cố tình chây ì, không nộp thuế đúng hạn, dẫn đến nợ đọng kéo dài. Để giải quyết vấn đề này, cần kết hợp giữa biện pháp tuyên truyền, giáo dục và các chế tài xử phạt nghiêm minh đối với hành vi trốn thuế.

2.3. Vấn đề thất thu thuế và quản lý nợ thuế còn tồn đọng

Tình trạng thất thu thuế và nợ đọng là hệ quả trực tiếp của những bất cập đã nêu. Việc xác định doanh thu không sát thực tế là nguyên nhân chính dẫn đến thất thu ngân sách từ thuế GTGTthuế TNCN. Ngoài ra, việc bỏ sót đối tượng nộp thuế, đặc biệt là các hộ kinh doanh trên nền tảng số, cũng làm gia tăng tình trạng này. Về quản lý nợ, số tiền nợ thuế của hộ kinh doanh có xu hướng tăng lên do nhiều hộ nghỉ, bỏ kinh doanh không thông báo, hoặc các trường hợp nợ không có khả năng thu hồi. Công tác đôn đốc thu nợ và áp dụng các biện pháp cưỡng chế đôi khi chưa quyết liệt và kịp thời. Để khắc phục, cần tăng cường quản lý rủi ro thuế, phân loại nợ để có biện pháp xử lý phù hợp, đồng thời đẩy mạnh công tác kiểm tra thuế tại cơ sở để ngăn chặn gian lận từ đầu.

III. 5 Giải pháp chiến lược tăng cường quản lý thu thuế HKD

Để nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế hộ kinh doanh, việc áp dụng đồng bộ các giải pháp chiến lược là vô cùng cần thiết. Các giải pháp này cần tập trung vào cả ba khía cạnh: hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường tương tác với người nộp thuế. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thuế mới theo hướng đơn giản, minh bạch và công bằng, phù hợp với đặc thù của hộ kinh doanh. Song song đó, việc đẩy mạnh cải cách hành chính thuế là yếu tố then chốt, giúp cắt giảm các thủ tục không cần thiết, tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ cần được đổi mới về nội dung và hình thức, giúp đối tượng nộp thuế dễ dàng tiếp cận thông tin và hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Bên cạnh đó, không thể thiếu vai trò của công tác thanh tra thuếkiểm tra thuế. Hoạt động này cần được thực hiện thường xuyên, dựa trên nguyên tắc quản lý rủi ro để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, đặc biệt là hành vi trốn thuế. Cuối cùng, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm cả trình độ chuyên môn và đạo đức công vụ của cán bộ thuế, là nền tảng để triển khai thành công tất cả các giải pháp khác, xây dựng hình ảnh ngành thuế chuyên nghiệp và thân thiện.

3.1. Hoàn thiện chính sách và cải cách thủ tục hành chính thuế

Giải pháp nền tảng là tiếp tục rà soát, sửa đổi hệ thống Luật Quản lý thuế và các văn bản liên quan để phù hợp hơn với thực tiễn. Cần nghiên cứu các phương pháp tính thuế đơn giản hơn cho hộ kinh doanh quy mô siêu nhỏ. Trọng tâm của cải cách hành chính thuế là đơn giản hóa quy trình kê khai thuế và nộp thuế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để giảm thiểu tiếp xúc trực tiếp, từ đó ngăn ngừa tiêu cực. Việc công khai, minh bạch cơ sở dữ liệu về mức thuế khoán của các hộ kinh doanh trên cùng địa bàn, cùng ngành nghề sẽ giúp tăng cường sự giám sát của cộng đồng và đảm bảo tính công bằng, như kinh nghiệm đã được đề xuất áp dụng tại huyện Thanh Oai.

3.2. Đổi mới công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế

Thay vì các phương pháp truyền thống, công tác tuyên truyền cần được đa dạng hóa qua nhiều kênh như mạng xã hội, ứng dụng di động, video hướng dẫn ngắn gọn. Nội dung cần tập trung giải đáp các vướng mắc thường gặp của hộ kinh doanh cá thể về thuế GTGT, thuế TNCN. Cơ quan thuế cần chủ động tổ chức các buổi đối thoại, tập huấn, cung cấp tài liệu hướng dẫn dễ hiểu. Việc xây dựng một bộ phận hỗ trợ chuyên nghiệp, phản hồi nhanh chóng các câu hỏi của người nộp thuế qua điện thoại hoặc trực tuyến sẽ giúp nâng cao sự hài lòng và ý thức tuân thủ tự nguyện, giảm bớt gánh nặng cho công tác quản lý và kiểm tra sau này.

3.3. Tăng cường hiệu quả công tác thanh tra kiểm tra thuế

Công tác thanh tra thuếkiểm tra thuế phải được tăng cường nhưng cần có trọng tâm, trọng điểm. Thay vì kiểm tra dàn trải, chi cục thuế cần áp dụng quản lý rủi ro thuế, tập trung vào các hộ kinh doanh có dấu hiệu rủi ro cao về doanh thu, về sử dụng hóa đơn. Cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý khác như quản lý thị trường, công an kinh tế để trao đổi thông tin và xử lý các trường hợp vi phạm phức tạp. Việc xử lý nghiêm các hành vi gian lận, trốn thuế không chỉ có tác dụng răn đe mà còn tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích các hộ kinh doanh tuân thủ đúng pháp luật.

IV. Cách ứng dụng chuyển đổi số vào quản lý thu thuế HKD

Quá trình chuyển đổi số trong quản lý thu thuế là xu thế tất yếu và là giải pháp đột phá để khắc phục những hạn chế cố hữu. Việc ứng dụng công nghệ thông tin một cách toàn diện sẽ thay đổi căn bản phương thức quản lý của cơ quan thuế và cách thức thực hiện nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh. Trọng tâm của chuyển đổi số là xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, tích hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để có cái nhìn toàn diện về đối tượng nộp thuế. Hệ thống này là nền tảng cho việc phân tích, đánh giá rủi ro, từ đó giúp công tác kiểm tra thuế hiệu quả hơn. Việc triển khai hóa đơn điện tử một cách rộng rãi, đặc biệt là hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, sẽ giúp minh bạch hóa doanh thu của các hộ kinh doanh bán lẻ, dịch vụ ăn uống, qua đó chống thất thu thuế hiệu quả. Đồng thời, việc phát triển các nền tảng nộp thuế điện tử qua ứng dụng di động, cổng dịch vụ công sẽ giúp đơn giản hóa tối đa thủ tục, giúp hộ kinh doanh có thể thực hiện nghĩa vụ mọi lúc, mọi nơi. Đây không chỉ là giải pháp công nghệ mà còn là một cuộc cải cách hành chính thuế sâu rộng, hướng tới một nền hành chính thuế hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

4.1. Triển khai hóa đơn điện tử và các giải pháp thanh toán số

Việc bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử đối với các hộ kinh doanh cá thể có quy mô lớn và khuyến khích các hộ nhỏ lẻ tham gia là giải pháp quan trọng nhất. Dữ liệu từ hóa đơn điện tử sẽ được truyền trực tiếp về cơ quan thuế, làm cơ sở để quản lý doanh thu một cách chính xác. Kết hợp với việc thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, cơ quan thuế có thể đối chiếu dòng tiền qua ngân hàng với doanh thu kê khai, hạn chế tối đa việc che giấu doanh thu. Giải pháp này giúp loại bỏ sự phụ thuộc vào việc điều tra thủ công và tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch hơn.

4.2. Xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung để quản lý rủi ro

Một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về hộ kinh doanh là mục tiêu cần hướng tới. Hệ thống này cần liên thông dữ liệu giữa cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh, bảo hiểm xã hội, ngân hàng... Dựa trên dữ liệu lớn (Big Data) và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), hệ thống có thể tự động phân tích và cảnh báo các trường hợp có rủi ro cao về thuế, chẳng hạn như hộ có doanh thu biến động bất thường, có dấu hiệu mua bán hóa đơn... Điều này giúp công tác quản lý rủi ro thuế trở nên chủ động, khoa học và hiệu quả, giải phóng nguồn lực cán bộ thuế khỏi các công việc thủ công.

4.3. Phát triển kênh nộp thuế điện tử thân thiện và tiện lợi

Để khuyến khích hộ kinh doanh sử dụng, các kênh nộp thuế điện tử cần được thiết kế với giao diện đơn giản, thân thiện, dễ sử dụng ngay cả với người không am hiểu công nghệ. Việc tích hợp nghĩa vụ nộp thuế vào các ứng dụng ngân hàng di động (Mobile Banking) hoặc ví điện tử là một hướng đi hiệu quả. Khi việc nộp thuế trở nên dễ dàng như một giao dịch chuyển tiền thông thường, người nộp thuế sẽ có xu hướng tuân thủ tốt hơn, giảm thiểu tình trạng nộp chậm và giảm tải công việc cho các chi cục thuế trong việc đôn đốc và thu nợ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

05/10/2025
Tài liệu luận văn thực trạng quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên đia bàn huyện

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế và hộ kinh doanh cá thể 1.1 Khái niệm, chức năng và vai trò của thuế 1.1 Khái niệm về thuế Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế.2 Chức năng của thuế - Chức năng phân phối: Ngay từ lúc ra đời, thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào ngân sách nhà nước. Bằng chức năng này, Nhà nước tiến hành tham gia phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để huy động nguồn lực tài chính vào tay Nhà nước. Chức năng phân phối là chức năng cơ bản, đặc thù nhất mà các Nhà nước đều phải dựa vào đó, thông qua chức năng này, quỹ ngân sách nhà nước được hình thành, đây là cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động và tồn tại của Nhà nước - Chức năng điều tiết kinh tế: Chức năng điều tiết kinh tế của thuế không thể tách rờichức năng phân phối, hai chức năng này có quan hệ tác động hỗ tương rất chặt chẽ. Khi Nhà nước sử dụng thuế với mục đích huy động một bộ phận Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào tay Nhà nước thì Nhà nước đã đặt thuế vào thế tiếp cận với các yếu tố tham giavào quá trình sản xuất.

Thuế tác động vào sản xuất theo các khía cạnh: Thuế ảnh hưởng đến mức độ và cơ cấu của tổng cầu, đồng thời thông qua cơ chế của mức cầu thị trường có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất. Điều này phụ thuộc rất lớn vào thu nhập mà người dân sử dụng, vì vậy sự thay đổi mức thuế đánh vào tiêu dùng ngay lập tức tác động vào mức cầu, ảnh hưởng đến tổng mức cầu của nền kinh tế. Thuế tác động đến việc mua sắm, sử dụng và phục hồi tài sản cố định trong doanh nghiệp thông qua các quy định của Nhà nước về hình thành, sử dụng quỹ khấu hao. 5 Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, thường xuyên bị hao mòn đến khi không còn sử dụng được nữa vì vậy cần phải thay thế,việc thay thế này được tiến hành bằng cách lập quỹ khấu hao, quỹ này được hình thành từ một bộ phận lợi nhuận không chịu thuế và quỹ này chịu tác động của mức thuế.

Giữa chức năng phân phối và chức năng điều tiết có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Chức năng phân phối nảy sinh đồng thời với sự ra đời của thuế, chức năng này được coi là cơ sở, nó quy định sự tác động và sự phát triển của chức năng điều tiết. Ngược lại, nhờ vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết đã làm cho chức năng phân phối có điều kiện phát triển. Ý nghĩa của chức năng phân phối càng tăng lên nhằm đảm bảo nguồn thu của Nhà nước đã tạo điều kiện khách quan để Nhà nước tác động sâu rộng đến hoạt động kinh tế-xã hội.3 Vai trò của thuế Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước mà thuế còn gắn liền với các vần đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội.

Các vai trò cơ bản của thuế là: tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, kích thích tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập. Thứ nhất, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: là vai trò đầu tiên của thuế. Mỗi loại thuế mà nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.Trong nền kinh tế thị trường vai tò này của thuế càng nổi bậc bởi thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Vai trò tạo nguồn thu của thuế xuất phát từ yêu cầu và quyền lực của nhà nước đối với xã hội.

Nhà nước với quyền lực chính trị có thể ban hành các loại thuế với các mức thuế suất tùy ý. Tuy nhiên, khi xét về mục đích lâu dài khi định ra các loại thuế, thuế suất, đối tượng chịu thuế , Chính phủ không chỉ đơn thuần thỏa mãn nhu cầu tăng thu của ngân sách nhà nước, mà thỏa mãn đồng thời yêu cầu tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập. Việc đáp ứng cả ba yêu cầu đòi hỏi Chính phủ phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành các loại thuế, bởi vì nguồn thu của thuế bắt nguồn từ thu nhập quốc dân, khả năng động viên của thuế phụ thuộc chủ yếu vào phát triển của sản xuất, hiệu quả của sản xuất. Như vậy, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước là vai trò cơ 6 bản của thuế.

Thứ hai, vai trò kích thích tăng trưởng kinh tế: là vai trò không kém phần quan trọng bởi vì chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ chế đầu tư và đến sự phát triển hoặc suy thoái của một nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết sản xuất và thị trường nhằm xác lập một cơ cấu kinh tế hợp lý; có những ngành kinh tế tác động đến sự tăng trưởng kinh tế( kinh tế công cộng) nhưng lại không được các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế quan tâm vì lợi nhuận không cao, cần có sự đầu tư của nhà nước. Điều này đỏi hỏi phải huy động thuế một tỷ lệ tương đối cao đối với một số ngành có điều kiện thuận lợi trong những thời kỳ nhất định và một tỷ lệ thuế tương đối thấp đối với những ngành kém thuận lợi nhằm tạo cơ sổ hạ tầng cho nền kinh tế. Đồng thời, việc phân biệt thuế suất đối với từng loại sản phẩm, ngành hàng tự nó đã góp phần điều chỉnh giá cả, quan hệ cung cầu và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư những sản phẩm, ngành hàng theo đúng định hướng của nhà nước và việc ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành nghề cũng góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế.

Thứ ba, vai trò điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội: Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau: một thiểu số người sẽ giàu có lên nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ở mức thu nhập thấp. Thực tế, sự phát triển của một đất nước là kết quả nỗ lực của cả một công đồng, sẽ không công bằng nếu không chia xẻ thành qủa phát triển kinh tế cho mọi người. Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nước vào qúa trình phân phối thu nhập, sự can thiệp này đặc biệt hiệu qủa bằng cách sử dụng công cụ thuế.2 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể 1.1 Khái niệm hộ kinh doanh cá thể Theo Điều 66, Nghị định 8/2015/NĐ-CP quy định như sau: “Điều 66. Hộ kinh doanh 1.

Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm 7 chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương. Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định.2 Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể Cũng như các loại hình kinh doanh khác, hộ kinh doanh hay các doanh nghiệp đều lấy lợi nhuận là mục tiêu chính, là thước đo hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng hoạt động theo cơ chế thị trường, cùng tồn tại và cạnh tranh trong một môi trường bình đẳng.Tuy nhiên, xét trên giác độ quản lý và sở hữu, hộ kinh doanh có những đặc điểm riêng đó là: Thứ nhất,về sở hữu vốn, tài sản: Đây là đặc điểm cơ bản khác biệt giữa hộ kinh doanh với doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tư nhân). Đối với các hộ kinh doanh, toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân.

Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động SXKD và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các qui định của Nhà nước hoặc từ cơ quan quản lý. Việc kiểm soát hoạt động vốn, tài sản, doanh thu và kết quả hoạt động kinh doanh hầu như đều do chủ hộ kinh doanh thực hiện. Thứ hai,đặc điểm về trình độ quản lý kinh doanh và chuyên môn nghiệp vụ: So với các thành phần kinh tế khác, phần lớn chủ hộ kinh doanh đều có trình độ văn hoá chưa cao. Đồng thời, hầu hết các hộ gia đình, cá nhân kinh doanh chỉ ở mức độ quy mô nhỏ, phát triển kinh tế gia đình kiếm thêm thu nhập.

nên trình độ quản lý và chuyên 8 môn nghiệp vụ và quản lý kinh doanh còn hạn chế. Chủ hộ kinh doanh cá thể đều chưa được đào tạo về các nghiệp vụ quản lý, trình độ chuyên môn, việc quản lý kinh doanh chủ yếu là theo kinh nghiệm. Vì vậy, nhìn chung hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ kinh doanh còn thấp, phần lớn hoạt động ở lĩnh vực thương mại và dịch vụ, mục đích chính là mua đi bán lại kiếm chênh lệch giá, một số lượng nhỏ hoạt động ở lĩnh vực sản xuất thì trình độ công nghệ thấp, trình độ quản lý không cao do đó năng suất lao động đạt thấp, chất lượng hàng hoá sản xuất không cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ