CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1. KHÁI QUÁT VỀ THUẾ VÀ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế Khái niệm về thuế Thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước và ngân sách của địa phương.
Mặc dù đã ra đời từ lâu, song rất khó có một định nghĩa chung nhất về thuế cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Joseph (1995) cho rằng: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”. Đây là quan điểm tổng quát nhất về thuế, nhưng gây ra cảm giác hiểu lầm là thuế có thể hoàn trả. Do đó, các quan điểm về sau thường cho rằng: phải thêm tính chất hoàn trả của vấn đề vào định nghĩa thuế.
Theo Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu (2012, trang 15) thì: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và cá nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng, được nhà nước quy định bằng văn bản pháp luật và không mang tính hoàn trả trực tiếp”. Như vậy, về cơ bản, hoạt động đánh thuế và nộp thuế chịu sự quản lý của các cơ quan nhà nước thông qua các văn bản pháp luật và các hướng dẫn dưới luật, nhằm tạo nguồn để phân phối lại thu nhập trong xã hội, chi trả cho các hoạt động của chính phủ cũng như đầu tư mới. Thuế gồm nhiều loại, tùy theo căn cứ phân loại. - Theo cơ sở đánh thuế có thể chia thành thuế tiêu dùng, thuế thu nhập, thuế tài sản.
Thuế tiêu dùng là loại thuế được đánh dựa trên phần thu nhập được mang đi tiêu dùng, biểu hiện như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt… Thuế thu nhập là loại thuế được đánh dựa trên thu nhập của cá nhân và tổ chức. Vì cá nhân và thể nhân trên thị trường có nhiều nguồn thu nhập nên loại thuế này cũng có nhiều cách 8 biểu hiện, như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp… Thuế tài sản được đánh trên giá trị tài sản. Tài sản có thể biểu hiện dưới dạng tài sản tài chính, thể hiện qua tiền mặt và các khoản đầu tư tài chính (thường là cổ phiếu, trái phiếu hoặc hợp đồng tài chính phái sinh); tài sản cố định như nhà cửa, đất đai, máy móc; tài sản có định vô hình như thương hiệu doanh nghiệp… - Theo tính chất đánh thuế, có thể chia thành 2 loại là thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế gián thu là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà đánh gián tiếp thông qua việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của cá nhân, tổ chức trên thị trường.
Một số loại thuế gián thu điển hình như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Ngược lại, thuế trực thu lại đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài sản của cá nhân, tổ chức. Có một số loại thuế trực thu tại Việt Nam như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp. Đặc điểm của thuế Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của thuế.
Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác. Những đặc trưng đó là: (1) Tính bắt buộc Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách Nhà nước. Joseph (1995) cho rằng: “Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc”. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của Nhà nước, theo đó nhà nước sử dụng quyền lực của mình bắt buộc người dân và các tổ chức phải chuyển giao một phần thu nhập cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho NNT.
Điều này xuất phát từ quyền lực có tính chất cưỡng chế đơn phương của nhà nước. Do việc nộp thuế mang tính bắt buộc gắn với quyền lực của Nhà nước mà NNT không có quyền từ chối nộp thuế, cũng không có quyền tự ấn định hay thoả thuận mức 9 đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp hành. Nhờ đó, Nhà nước mới có nguồn thu ổn định thường xuyên đảm bảo tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu công. Việc sử dụng quyền lực nhằm cưỡng chế NNT phải tuân thủ pháp luật thuế, song việc không tự nguyện hoặc có hành vi trốn nộp thuế cũng ảnh hưởng đến hiệu quả thu thuế.
Vì vậy, việc tuyên truyền giáo dục tâm lý chấp nhận nộp thuế và nâng cao ý thức tuân thủ của NNT luôn được coi trọng trong công tác quản lý thuế. (2) Tính không hoàn trả trực tiếp Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế không phải là khoản thù lao mà NNT phải trả cho Nhà nước do được hưởng các hàng hoá công mà nhà nước cung cấp cho NNT thông qua các dịch vụ công cộng của nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước, trong và sau khi thu thuế: (i) Tại thời điểm nộp thuế, NNT không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào và cũng không được quyền đòi hoàn trả số thuế đã nộp cho nhà nước; (ii) Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho NNT; và (iii) Sau khi nộp thuế, cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào từ Nhà nước cho NNT. Nhìn chung, NNT phải chấp nhận sự không hoàn trả đó và coi đó là nghĩa vụ thuế của mình đối với xã hội.
(3) Tính định trước trong pháp luật và tính pháp lý cao Các khoản nộp thuế và mức nộp thuế đã được luật pháp quy định trước và mang tính pháp lý cao. Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước. Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. Vì vậy, để bắt buộc các công dân tự nguyện nộp thuế thì Nhà nước phải sử dụng đến quyền lực của mình, quyền lực ấy được thể hiện bằng luật pháp.
Tuy nhiên, việc thu thuế không phải tùy tiện, mà các yếu tố điều chỉnh hành vi nộp thuế đã được quy định trước trong luật pháp, như đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, mức thuế phải nộp và những chế tài mang tính cưỡng chế khác. Hộ kinh doanh cá thể Khái niệm hộ kinh doanh cá thể Trên quan điểm thống kê, Liên hiệp quốc đưa ra định nghĩa: “Hộ là những người cùng chung sống dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cùng có chung một ngân quỹ”. Hộ kinh doanh cá thể là đơn vị kinh tế cơ sở được ra đời từ rất lâu. Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của đất nước thì nó cũng luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học.
Chính vì vậy, khái niệm về hộ kinh doanh cá thể cũng có nhiều khái niệm khác nhau. Raul (1989 nhìn nhận hộ KD cá thể dưới góc độ nhân chủng học như sau: “Hộ kinh doanh cá thể là những người có chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng”. Tuy nhiên, chính tác giả này lại đưa ra một quan điểm khác tiếp cận trên vấn đề thu nhập là: “Thành viên của hộ không nhất thiết phải sống chung dưới mái nhà, miễn là họ có đóng góp chung vào ngân quỹ của gia đình”. Ở Việt Nam, hộ kinh doanh cá thể là một thuật ngữ được dùng trong hoạt động cung ứng vốn tín dụng và thu thuế cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ.
Trong các văn bản pháp luật hiện hành ở Việt Nam, hộ được xem như một chủ thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung. Một số thuật ngữ khác được dùng để thay thế thuật ngữ “hộ kinh doanh cá thể” là “hộ”, “hay “hộ sản xuất”. Theo điều 106 về “Hộ gia đình”, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.” Tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP có định nghĩa rất rõ hộ gia đình hoạt động sản xuất kinh doanh là “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một 11 nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Do có quy mô nhỏ nên trong trường hợp gặp điều kiện thuận lợi, hộ có thể huy động mọi nguồn lực để đầu tư, khi gặp điều kiện bất lợi có thể thu hẹp quy mô sản xuất.
Tuy nhiên, thiếu vốn để mở rộng kinh doanh là một trong những vấn đề khó khăn thường thấy ở các hộ gia đình. Chính vì vậy, việc tạo điều kiện để các hộ tiếp cận với tín dụng có vai trò quan trọng trong việc phát triển sản xuất kinh doanh. Từ các khái niệm trên, có thể hiểu rằng hộ kinh doanh cá thể là một đơn vị sản xuất cơ bản vừa kinh doanh vừa tiêu dùng. Nó sử dụng nguồn nhân lực tự có, quy mô sản xuất nhỏ, ngành nghề đa dạng phong phú, và vốn kinh doanh chủ yếu từ tiết kiệm trong hộ.
Đặc điểm hộ kinh doanh cá thể Về nhân lực: Hộ gia đình chủ yếu sử dụng nguồn lực tự có trong gia đình, bạn bè thân thuộc. Cụ thể hơn, hộ kinh doanh cá thể mang tính chất của một hộ gia đình, hoạt động dựa vào vốn, tài sản và sức lao động của chính bản thân và những người trong gia đình.