mở đầu của một chu trình ngân sách. Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh. Xét trên góc độ quản lý, số chi Luan van 13 thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính Nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NSNN. Từ đó làm nảy sinh nguyên tắc quản lý chi thường xuyên theo dự toán.
Việc đòi hỏi quản lý chi thường xuyên theo dự toán là xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sau: Thứ nhất: Hoạt động của NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu - chi của ngân sách phụ thuộc vào sự phán quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước đó. Do vậy, mọi khoản chi từ NSNN có thể trở thành hiện thực khi và chỉ khi khoản chi đó được nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt và thông qua. Thứ hai: Phạm vi chi tại mỗi đơn vị rất đa dạng liên quan tới nhiều loại hình, nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Mức chi cho mỗi loại hoạt động được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng.
Hoạt động nào phát sinh liên lục mang tính lặp lại thì xếp chi phí cho hoạt động đó vào chi thường xuyên. Thứ ba: Có quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu cân đối của NSNN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng ngân sách ở các đơn vị, hạn chế được tính tuỳ tiện về nguyên tắc ở các đơn vị thụ hưởng. Sự tôn trọng nguyên tắc quản lý theo dự toán đối với các khoản chi thường xuyên được nhìn nhận trên các giác độ sau: Mọi nhu cầu chi thường xuyên dự kiến cho năm kế hoạch nhất thiết phải xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở, thông qua các bước xét duyệt của các cơ quan quyền lực Nhà nước từ thấp đến cao, quyết định cuối cùng cho dự toán chi thường xuyên của NSNN thuộc về Quốc hội. Chỉ sau khi dự toán chi được Quốc hội xét duyệt và thông qua mới trở thành căn cứ chính thức để phân bổ số chi thường xuyên cho mỗi ngành, mỗi cấp.
Do vậy, có thể nói quyết định của Quốc hội về việc thông qua dự toán NSNN (trong đó có dự toán chi NSNN) như là một trong những “Đạo luật” điều chỉnh đến hoạt động của lĩnh vực này. Vì thế các ngành, các cấp, các đơn vị phải có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ tiêu thuộc dự toán chi thường xuyên đã được Quốc hội thông qua. Luan van 14 Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên, đơn vị phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt, phân bổ và sử dụng cho các khoản, các mục đó, phải hạch toán theo đúng mục lục NSNN đã quy định. Định kỳ theo chế độ quyết toán kinh phí đã quy định các đơn vị khi phân tích đánh giá kết quả thực hiện của kỳ báo cáo phải lấy dự toán làm căn cứ đối chiếu so sánh.
Muốn vậy, dự toán chi đã được xác lập theo các chỉ tiêu nào, theo khoản, mục nào thì quyết toán chi cũng phải được lập như vậy. * Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả Có thể nói tiết kiệm và hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính, bởi một lẽ đơn giản rằng: Nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì vô hạn. Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính toán sao cho phù hợp với chi phí ít nhất nhưng vẫn đạt được hiệu quả cao nhất. Mặt khác, do đặc thù hoạt động của NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp.
Nhu cầu chi từ NSNN luôn tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn. Nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên của NSNN. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả chỉ có thể được tôn trọng khi quá trình quản lý sử dụng kinh phí ở các đơn vị y tế làm tốt và làm đồng bộ một số nội dụng sau: - Phải xây dựng được các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc, đồng thời lại phải có tính thực tiễn cao. Chỉ có như vậy các định mức, tiêu chuẩn sử dụng kinh phí mới trở thành căn cứ pháp lý xác đáng phục vụ cho quá trình quản lý.
- Biết lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động sao cho tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao. Để đạt được điều này, đòi hỏi phải có các phương án phân phối và sử dụng kinh phí khác nhau. Trên cơ sở đó mà lựa chọn phương án tối ưu nhất cho cả quá trình lập dự toán, phân bổ và sử dụng kinh phí. Có thể nói, tiết kiệm, hiệu quả là hai mặt của nguyên tắc này, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Vì vậy, khi xem xét đến vấn đề tiết kiệm các khoản chi phải đặt trong sự ràng buộc của tính hiệu quả và ngược lại. Luan van 15 Mặt khác, khi đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp y tế công lập phải có quan điểm toàn diện, phải xem xét mức độ ảnh hưởng của mỗi khoản chi thường xuyên tới các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội khác và phải tính đến thời gian phát huy tác dụng của nó. Vì vậy, khi nói đến hiệu quả của việc sử dụng kinh phí người ta thường hiểu đó là những lợi ích về kinh tế và xã hội được hưởng. * Nguyên tắc chi trực tiếp qua kho bạc Nhà nước Một trong những chức năng quan trọng của Kho bạc Nhà nước là quản lý quỹ NSNN.
Vì vậy, KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN. Để tăng cường vai trò của KBNN trong kiểm soát chi thường xuyên của NSNN, hiện nay ở nước ta đã và đang triển khai việc chi trực tiếp qua KBNN như là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này. Để thực hiện được nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN cần phải giải quyết tốt một số vấn đề sau: Thứ nhất, tất cả các khoản chi phải được kiểm tra kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Các khoản chi có trong dự toán, đã được phê duyệt, đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí chuẩn chi.
Thứ hai, tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án,. sử dụng kinh phí phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ hạn mức, cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán. Thứ ba, cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo hạn mức kinh phí quý cho các đơn vị sử dụng ngân sách, kiểm tra việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi. Thứ tư, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi theo đúng quy định, tham gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng kinh phí và xác nhận số thực chi qua Kho bạc của các đơn vị.
Luan van 16 Thứ năm, lựa chọn phương thức cấp phát, thanh toán đối với từng khoản chi thường xuyên cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội hiện tại. Cụ thể, phương thức cấp phát, thanh toán các khoản tiền lương và có tính chất lương sẽ khác với phương thức cấp phát thanh toán đối với các khoản mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm việc sửa chữa và xây dựng nhỏ [18].4 Cơ chế quản lý thu chi đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập a. Khái quát về cơ chế tài chính - Cơ chế tài chính: là cách thức vận dụng- được qui định, để thực hiện các chính sách tài chính trong những điều kiện cụ thể, đối với từng loại pháp nhân và thể nhân trong từng không gian và thời gian nhất định. - Chính sách tài chính : là tập hợp có hệ thống các văn bản pháp quy, chỉ rõ nghĩa vụ và quyền lợi tài chính của các pháp nhân và thể nhân trong khung khổ hoạt động cụ thể tại một không gian và thời gian nhất định.
- Quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp y tế công lập: là giám sát thu, chi đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc quản lý tài chính hiện hành. Ở Việt Nam, quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập là một nội dung của chính sách kinh tế- tài chính công. Chính sách quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp y tế công lập do Bộ trưởng Bộ Y tế và Sở Y tế các địa phương chủ trương với trọng tâm là sử dụng các nguồn lực đầu tư cho ngành y tế một cách hiệu quả nhất để cung cấp các dịch vụ y tế một cách chất lượng và công bằng. Nó được thể hiện qua hai mặt: Tính hiệu quả, và tính công bằng.
- Tính hiệu quả chú trọng đến hiệu quả sự dụng các nguồn lực như: trình độ, trang thiết bị kỹ thuật, phương pháp phân phối nguồn lực, hiệu lực quản lý hành chính và chất lượng dịch vụ y tế tốt nhất để cung cấp cho nhân dân. - Tính công bằng đòi hỏi cung cấp dịch vụ y tế bằng nhau cho những người có mức độ bệnh tật như nhau không phân biệt giàu nghèo lớn bé, thoả mãn nhu cầu khám chữa bệnh của mọi người khi ốm đau theo một mặt bằng chi phí nhất định không mà không đòi hỏi khả năng chi trả của người bệnh là điều kiện tiên quyết. Do đó, quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp y tế công lập ở Việt Nam được định nghĩa là việc quản lý toàn bộ các nguồn lực của trung tâm để phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học [18]. Cơ chế quản lý thu chi Hiện nay, cơ chế quản lí áp dụng đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính.