CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH THIẾT KẾ CHUẨN ĐẦU RA CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong những năm qua Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo triển khai nghiên cứu áp dụng thí điểm cách tiếp cận CDIO trong việc xây dựng CTĐT và cải tiến phương pháp dạy và học để chuyển tải được chuẩn đầu ra ở 3 trường đại học lớn ở TP. HCM và Hà Nội. Đó là các trường: Trường Đại học Bách khoa, trường Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Tp.HCM và Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nghiên cứu tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế -Trường ĐHKT được ĐHQGHN giao nhiệm vụ nghiên cứu đề án “Xác lập cơ sở khoa học, thực tiễn và quy trình xây dựng CTĐT theo cách tiếp cận CDIO và áp dụng cho ngành Kinh tế Đối ngoại chất lượng cao tại Đại học Quốc gia Hà Nội” từ tháng 6/2008, do TS Vũ Anh Dũng chủ trì [27, tr. Đề án đã đặt ra 4 mục tiêu chính: - Xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn của cách tiếp cận CDIO. - Xây dựng chuẩn đầu ra (hay còn gọi là dự kiến kết quả đầu ra) và khung chương trình cho CTĐT cử nhân CLC ngành Kinh tế Đối ngoại theo cách tiếp cận CDIO dựa vào chuẩn đầu ra. - Xây dựng Dự thảo hướng dẫn triển khai thực hiện chương trình cử nhân CLC ngành Kinh tế đối ngoại theo cách tiếp cận CDIO.
- Xây dựng Dự thảo hướng dẫn việc xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với ĐHQGHN theo cách tiếp cận CDIO. Sau một thời gian triển khai nghiên cứu, ngày 18/1/2010 đề án đã được Hội đồng Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá, nghiệm thu đạt kết quả xuất sắc. Ngày 1/7/2010, Trường ĐHKT đã chính thức ban hành chuẩn đầu ra cho chương trình cử nhân Kinh tế Đối ngoại CLC theo 6 z cách tiếp cận CDIO. Trong tháng 8/2010, Chuẩn đầu ra theo cách tiếp cận CDIO đã được phổ biến cho sinh viên ngành Kinh tế Đối ngoại CLC.
Nghiên cứu tại trường Đại học Bách khoa và Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia TP. HCM Tháng 8/2009 Giám Đốc Đại học Quốc gia (ĐHQG) TPHCM đã ban hành quyết định về việc “Triển khai thí điểm áp dụng mô hình CDIO phục vụ xây dựng và phát triển CTĐT tại ĐHQG - TPHCM”. Trong lộ trình thực hiện tại trường ĐHBK TP HCM, công tác soạn thảo chuẩn đầu ra cho từng chương trình đào tạo và cho từng môn học đã được áp dụng phương pháp tiếp cận mô hình CDIO[27, tr. Nghiên cứu tại trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN Nghiên cứu tàng thư danh mục luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ [30] chuyên ngành Quản lý giáo dục tại trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN , học viên nhận thấy đề tài luận án, luận văn có liên quan đến quản lý, thiết kế xây dựng chuẩn đầu ra chương trình đào tạo theo phương pháp tiếp cận CDIO chưa có.
Tháng 04 năm 2010, TS. Lê Đức Ngọc và TS. Trần Hữu Hoan có công trình nghiên cứu “Chuẩn đầu ra trong giáo dục đại học” công bố trên Tạp chí Khoa học giáo dục số 55 có đề cập đến Thiết kế CĐR CTĐT tiếp cận CDIO. Định hướng nghiên cứu của Bộ GD&ĐT Thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề “Phát triển chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận mô hình CDIO” tại Hà Nội, Đà Nẵng và TPHCM nhằm giới thiệu đến các trường đại học cả nước một phương pháp dạy và học đã được triển khai hơn 60 trường đại học trên thế giới.
Hiện nay mong muốn của Bộ GDĐT và các ĐHQG là đưa nền giáo dục đại học nước ta ngang tầm trình độ khu vực và quốc tế. Sinh viên là đối 7 z tượng và là sản phẩm của đào tạo đại học. Do đó, từ nguyên liệu ban đầu là sinh viên, để tạo ra sản phẩm đạt trình độ cao cần phải có một quy trình (chương trình đào tạo) chuẩn, nhà xưởng đủ tiêu chuẩn (không gian giáo dục), máy móc thiết bị tốt (phòng thí nghiệm, trang thiết bị hỗ trợ đào tạo), thợ lành nghề (trình độ giảng viên giỏi) và phương pháp đánh giá chất lượng sản phẩm tạo ra một cách chuyên nghiệp và chính xác. Nhưng đây là công việc rất khó khăn, muốn triển khai áp dụng mô hình CDIO vào việc xây dựng CTĐT và cải tiến phương pháp dạy và học chuyển tải được chuẩn đầu ra, đòi hỏi các trường phải có nguồn nhân lực có chất lượng (đội ngũ GV có trình độ cao), kinh phí hỗ trợ và sự ủng hộ của BGH nhà trường, của Bộ GD&ĐT, của cán bộ giảng dạy tham gia đào tạo và của các bên liên quan khác.
Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng đào tạo phục vụ tốt cho nhu cầu kinh tế xã hội đất nước thì không có con đường nào khác là phải thực hiện mô hình này. Các khái niệm cơ bản[1][9][29] 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm đa hình được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Thông thường, khi đưa ra khái niệm quản lý các tác giả thường gắn với một loại hình cụ thể: Mary Parker Follett (1868-1933) cho rằng trong công việc quản lý cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm.
Theo Bà “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác” [9]. Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [9]. 8 z Henry Fayol (1841 – 1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Sau này được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
Fayol còn chứng minh được rằng khoa học quản lý – “quản lý hành chính”, không những cần thiết cho các tổ chức công nghiệp và hãng kinh doanh mà còn có thể áp dụng với mọi loại hình tổ chức, kể cả cơ quan của Chính phủ vì quản lý ở một tổ chức đều có chung những chức năng trên [9]. Theo các tác giả, quản lý là một hoạt động vừa khó khăn vừa phức tạp lại có ý nghĩa trong sự phát triển hay trì trệ của mọi tổ chức. Quản lý đúng đắn sẽ giúp cho các tổ chức hạn chế các nhược điểm, liên kết gắn bó mọi người trong tổ chức, tạo niềm tin, sức mạnh và truyền thống của tổ chức. Nhìn chung ở cách tiếp cận nào, quản lý đều có 4 chức năng chủ đạo[9]: - Xây dựng kế hoạch (kế hoạch hóa): là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng của quản lý.
Xây dựng kế hoạch có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. - Tổ chức triển khai: là quá trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã vạch ra. Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tưởng trong kế hoạch thành hiện thực. - Chỉ đạo – điều hành: vừa có ý nghĩa chỉ thị, điều hành, vừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của các thành viên trong tổ chức trên cơ sở sử dụng đúng các quyền lực của người quản lý.
Chỉ đạo – điều hành bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Chức năng này không 9 z chỉ bắt đầu sau khi việc Lập kế hoạch và Tổ chức thực hiện đã hoàn tất, mà ảnh hưởng quyết định tới công tác Kiểm tra đánh giá sau này. - Kiểm tra, đánh giá: là một chức năng theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh phù hợp.
Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau: người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động; đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đề ra; điều chỉnh những sai lệch và hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần. - Quan hệ mật thiết với bốn chức năng trên, nhiều tác giả còn nhấn mạnh vai trò của Thông tin trong quản lý: "Không có thông tin, không có quản lý"; "Thông tin là thể nền của quản lý". Chu trình quản lý có thể biểu diễn bằng sơ đồ dưới đây: 1. Lập Kế hoạch 4.
Kiểm tra, Thông tin 2. Tổ chức đánh giá quản lý 3. Chu trình quản lý [9] 1. Chuẩn đầu ra chương trình đào tạo[25][7] Chuẩn đầu ra (Learning outcomes) của một chương trình giáo dục đại học là nội hàm chất lượng tối thiểu của người tốt nghiệp chương trình đó; là những chỉ số về phẩm chất, kiến thức, kỹ năng, thái độ/ hành vi và khả năng/ năng lực hay tổng quát hơn là các "kỹ năng cứng" và "kỹ năng mềm" người học có được sau khi kết thúc chương trình giáo dục đó trong nhà trường [25, tr1].
10 z Một số định nghĩa chuẩn đầu ra được sử dụng thay thế trong các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo [28, tr17]: - Chuẩn đầu ra thể hiện những gì sinh viên nên biết, hiểu và có năng lực thực hiện. - Chuẩn đầu ra là khẳng định những điều mà chúng ta muốn sinh viên có khả năng làm, biết, hoặc hiểu nhờ hoàn thành một khóa đào tạo. - Chuẩn đầu ra là quy định về nội dung kiến thức chuyên môn; kỹ năng thực hành, khả năng nhận thức công nghệ và giải quyết vấn đề; công việc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp và các yêu cầu khác đối với từng trình độ, ngành đào tạo[29, tr1].