Tổng quan nghiên cứu

Quản lý thiết chế văn hóa là trụ cột quan trọng trong việc xây dựng đời sống tinh thần, bảo tồn bản sắc truyền thống và thúc đẩy kinh tế xã hội tại khu vực nông thôn. Tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, quy mô dân số năm 2019 đạt 81.186 người, trong đó khu vực nông thôn chiếm 90,68% với 73.623 người và mật độ dân số 315 người/km2. Mặc dù tổng giá trị sản xuất toàn huyện năm 2019 đạt 5.117,116 tỷ đồng (tăng trưởng 12,81% so với năm 2018), việc đầu tư và vận hành các cơ sở sinh hoạt văn hóa cộng đồng vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn về hạ tầng và kinh phí.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự thiếu đồng bộ giữa tốc độ phát triển kinh tế và chất lượng quản lý mạng lưới thiết chế văn hóa cơ sở. Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng quản lý nhà nước đối với hệ thống thiết chế văn hóa thể thao tại huyện Quế Sơn giai đoạn 2016 - 2020, nhận diện các điểm nghẽn thể chế, nhân lực, tài chính, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đến năm 2025 và tầm nhìn 2030. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian 13 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn với tổng diện tích tự nhiên 257,46 km2.

Ý nghĩa của công trình thể hiện rõ nét qua việc cung cấp luận cứ thực tiễn để chuẩn hóa 105 nhà văn hóa thôn, tháo gỡ điểm nghẽn định mức chi văn hóa hiện chỉ đạt khoảng 1.200 đồng/người/năm, đồng thời hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thiện tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn hóa trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý học hiện đại của Paul Hersey, Ken Blanchard kết hợp với hệ thống lý luận hành chính công tại Việt Nam. Quản lý được định nghĩa là sự tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý thông qua 4 chức năng cơ bản: hoạch định chiến lược, tổ chức bộ máy, chỉ đạo điều hành và kiểm tra giám sát nhằm tối ưu hóa các nguồn lực văn hóa.

Bên cạnh đó, đề tài khai thác lý thuyết xã hội học về thiết chế của Bruce J. Cohen và Robertsons, kết hợp định nghĩa chuẩn mực từ Từ điển Bách khoa Việt Nam. Thiết chế văn hóa được tiếp cận như một chỉnh thể hội tụ đầy đủ 5 yếu tố cấu thành: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự chuyên trách, quy chế vận hành và nguồn kinh phí hoạt động. Việc thiếu hụt bất kỳ yếu tố nào cũng làm suy giảm hiệu năng trao truyền và hưởng thụ văn hóa của cộng đồng.

Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm:

  1. Thiết chế: Hệ thống quy tắc, giá trị và cơ cấu tổ chức phục vụ nhu cầu xã hội.
  2. Thiết chế văn hóa: Chỉnh thể cơ sở vật chất và cơ chế tổ chức hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao.
  3. Quản lý nhà nước về thiết chế văn hóa: Sự điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của cơ quan công quyền nhằm định hướng và duy trì trật tự hoạt động văn hóa.
  4. Xã hội hóa văn hóa: Cơ chế huy động nguồn lực tổng hợp từ nhân dân và các thành phần kinh tế tư nhân tham gia phát triển sự nghiệp văn hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn tích hợp từ báo cáo hành chính giai đoạn 2016 - 2020 của 13 xã, thị trấn, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện, Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện Quế Sơn cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết số 33-NQ/TW và Quyết định số 2164/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp được tiến hành thông qua quan sát tham dự và phỏng vấn sâu với cỡ mẫu 45 người. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích được áp dụng nhằm chọn đúng các nhóm chủ thể cốt lõi: 2 lãnh đạo Phòng Văn hóa và Thông tin, 2 lãnh đạo Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện, 32 cán bộ chuyên trách văn hóa - xã hội tại 13 xã, cùng 9 trưởng ban nhân dân thôn và người dân đại diện các nhóm lứa tuổi. Lý do chọn mẫu có chủ đích là nhằm đảm bảo thu thập thông tin chuyên sâu, chính xác từ những người trực tiếp hoạch định, thực thi và thụ hưởng chính sách.

Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp kết hợp so sánh đối chiếu và tham vấn chuyên gia văn hóa học giúp lượng hóa các chỉ số phát triển. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai từ năm 2018 đến tháng 10 năm 2021, đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mạng lưới cơ sở vật chất văn hóa của huyện Quế Sơn đã hình thành diện rộng nhưng chưa đạt chuẩn đồng bộ. Tính đến năm 2020, toàn huyện đã xây dựng được 105 nhà văn hóa trên tổng số 107 thôn, tổ dân phố (đạt tỷ lệ 98,13%), sở hữu 27 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh được xếp hạng (gồm 02 di tích cấp quốc gia), cùng 1 phòng trưng bày 24 m2 lưu giữ 304 hiện vật. Tuy nhiên, Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện được xây dựng từ năm 1986 với hội trường 500 chỗ ngồi đã xuống cấp, trang thiết bị âm thanh ánh sáng còn thô sơ. Toàn huyện vẫn còn 03 thôn chưa có nhà văn hóa độc lập mà phải mượn trụ sở trường học hoặc hợp tác xã cũ.

Nguồn lực tài chính công phân bổ cho văn hóa ở mức rất thấp. Chi ngân sách thường xuyên cho sự nghiệp văn hóa thông tin, thể dục thể thao cấp huyện tăng từ 1.328 triệu đồng năm 2018 lên 2.450 triệu đồng năm 2020, song chỉ chiếm gần 2% tổng chi thường xuyên sự nghiệp văn xã. Tại cấp xã, kinh phí hoạt động văn hóa chỉ chiếm 1,84% ngân sách (dưới 10 triệu đồng/xã/năm), khiến mức thụ hưởng văn hóa bình quân của người dân chỉ đạt khoảng 1.200 đồng/người/năm. Nguồn lực xã hội hóa giai đoạn này huy động được gần 10 tỷ đồng từ nhân dân và huyện trích hỗ trợ 850 triệu đồng từ nguồn tiết kiệm 1% chi thường xuyên.

Tổ chức bộ máy quản lý mỏng và kiêm nhiệm quá mức. Phòng Văn hóa và Thông tin huyện có 7 biên chế (1 trưởng phòng, 1 phó phòng, 5 chuyên viên). Tại 13 xã, thị trấn có 32 cán bộ đảm nhiệm công tác văn hóa nhưng 100% đều phải gánh vác đồng thời nhiều mảng việc phức tạp từ đài truyền thanh, thư viện xã, quản lý nhà văn hóa đến công tác gia đình và thể thao.

Hoạt động phong trào quần chúng phát triển sôi nổi với 235 câu lạc bộ đội nhóm tự quản, 16 sân bóng đá và 118 sân bóng chuyền. Thư viện huyện phục vụ 25.401 bản sách, đạt 24.896 lượt tài liệu luân chuyển và đón 7.850 lượt bạn đọc năm 2019. Toàn huyện duy trì 25 phòng truyền thanh phát sóng 2 lần/ngày tại 100% xã, thị trấn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế bắt nguồn từ nhận thức của một số cấp ủy chính quyền cơ sở chưa xem văn hóa ngang hàng với kinh tế. Công tác quy hoạch đất đai thiếu chặt chẽ dẫn đến hầu hết nhà văn hóa thôn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

So sánh với các nghiên cứu tại huyện Ba Chẽ (tỉnh Quảng Ninh) hay huyện Kiến Thụy (thành phố Hải Phòng), thực trạng tại Quế Sơn phản ánh rõ nét rào cản chung của các huyện thuần nông miền Trung: tỷ lệ dân số nông thôn áp đảo (90,68%) nhưng mức thụ hưởng chỉ 1.200 đồng/người/năm tạo ra khoảng cách lớn so với khu vực đô thị.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh mức tăng ngân sách văn hóa 1.328 - 2.450 triệu đồng với tổng chi ngân sách huyện, kết hợp bảng phân loại cơ cấu 235 câu lạc bộ cơ sở nhằm làm rõ tiềm năng nội lực trong nhân dân.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện quy hoạch đất đai và chuẩn hóa hạ tầng: Ủy ban nhân dân huyện Quế Sơn chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp Ủy ban nhân dân 13 xã hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 100% nhà văn hóa thôn, đồng thời xóa bỏ 3 điểm thôn chưa có nhà văn hóa trước quý IV năm 2024.

  2. Tăng định mức ngân sách công cho văn hóa: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện Quế Sơn cần điều chỉnh tỷ lệ chi thường xuyên cấp xã cho văn hóa từ 1,84% lên mức tối thiểu 5% - 8% tổng ngân sách xã giai đoạn 2022 - 2025, duy trì cơ chế trích 1% - 1,5% tiết kiệm chi huyện để nâng cấp sân thể thao thôn xóm.

  3. Chuẩn hóa và chuyên môn hóa đội ngũ nhân sự: Phòng Nội vụ phối hợp Phòng Văn hóa và Thông tin tổ chức đào tạo nghiệp vụ quản lý cho 32 cán bộ văn hóa cấp xã, bảo đảm 100% cán bộ đạt trình độ từ trung cấp chuyên ngành trở lên và có chứng chỉ lý luận chính trị vào cuối năm 2025.

  4. Đẩy mạnh thu hút đầu tư xã hội hóa: Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện và Ủy ban nhân dân các xã Quế Long, Quế Hiệp, Quế Phong xây dựng đề án hợp tác công tư tại 4 khu du lịch sinh thái (Suối Tiên, Đèo Le, Hồ Giang, Bàn Thạch), phấn đấu huy động trên 15 tỷ đồng vốn xã hội hóa cho các sân cỏ nhân tạo, bể bơi và câu lạc bộ thể thao đến năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện và cơ sở: Nắm bắt bức tranh tổng thể về mô hình vận hành 105 nhà văn hóa và 235 câu lạc bộ, ứng dụng trực tiếp vào việc xây dựng đề án nâng cao đời sống văn hóa nông thôn giai đoạn mới.

  2. Ban chỉ đạo Chương trình xây dựng Nông thôn mới: Tiếp cận khung số liệu đánh giá tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn hóa, phục vụ công tác thẩm định và công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao tại các vùng trung du.

  3. Giảng viên, học viên chuyên ngành Quản lý văn hóa: Sử dụng hệ thống lý luận 5 yếu tố thiết chế và dữ liệu thực chứng trên địa bàn 81.186 dân làm tài liệu tham khảo giảng dạy, nghiên cứu so sánh quản lý văn hóa địa phương.

  4. Các nhà đầu tư và tổ chức xã hội hóa thể thao: Nhận diện nhu cầu rèn luyện thể chất của 13 xã thị trấn để xây dựng phương án kinh doanh dịch vụ thể thao, văn hóa tư nhân có hiệu quả kinh tế và tính phục vụ cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nổi bật nhất trong hệ thống thiết chế văn hóa huyện Quế Sơn là gì? Huyện sở hữu mạng lưới phủ rộng với 105 trên 107 thôn có nhà văn hóa (đạt 98,13%) cùng 235 câu lạc bộ thể thao văn nghệ tự quản hoạt động thường xuyên. Ngoài ra, huyện lưu giữ 27 di tích lịch sử danh thắng và 100% xã có bưu điện văn hóa phục vụ người dân.

Tại sao mức chi văn hóa bình quân của người dân Quế Sơn chỉ đạt khoảng 1.200 đồng mỗi năm? Nguyên nhân do ngân sách cấp xã dành cho sự nghiệp văn hóa rất thấp, chỉ chiếm 1,84% chi thường xuyên (dưới 10 triệu đồng/xã/năm). Nguồn lực công phần lớn ưu tiên cho hạ tầng giao thông, thủy lợi, dẫn đến suất đầu tư trực tiếp trên đầu người bị hạn chế.

Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa tại xã Quế Sơn đối mặt với khó khăn gì? Toàn huyện có 32 cán bộ văn hóa cấp xã nhưng 100% đều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, phụ trách đồng thời đài truyền thanh, thư viện, quản lý nhà văn hóa và thể dục thể thao, trong khi chế độ phụ cấp và đào tạo chuyên sâu chưa đáp ứng yêu cầu.

Luận văn giải quyết bài toán pháp lý đất đai cho các nhà văn hóa thôn như thế nào? Tác giả kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo hoàn thiện quy hoạch chi tiết đất văn hóa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng loạt cho toàn bộ nhà văn hóa thôn nhằm tránh tranh chấp và tạo cơ sở đầu tư kiên cố.

Mô hình xã hội hóa văn hóa tại Quế Sơn đã đạt được kết quả cụ thể nào? Giai đoạn 2018 - 2020, địa phương đã huy động thành công gần 10 tỷ đồng từ nguồn lực nhân dân và doanh nghiệp để xây dựng tường rào, nhà sinh hoạt, chỉnh trang cổng chào và bước đầu phát triển 3 cơ sở sân bóng cỏ nhân tạo, 3 bể bơi tư nhân.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với 5 yếu tố cấu thành thiết chế văn hóa cơ sở.
  • Đánh giá xác thực hiện trạng 105 nhà văn hóa thôn, 27 di tích và 235 câu lạc bộ trên địa bàn 13 xã thị trấn huyện Quế Sơn.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn cốt lõi về ngân sách văn hóa cấp xã chỉ chiếm 1,84% và định mức hưởng thụ 1.200 đồng/người/năm.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi về quy hoạch đất, cơ chế tài chính, đào tạo 32 cán bộ xã và xã hội hóa đầu tư.
  • Đóng góp bộ dữ liệu thực chứng phục vụ công tác quản lý văn hóa nông thôn tại tỉnh Quảng Nam và các vùng tương đồng.

Công trình đóng góp khung giải pháp quản lý thực tiễn, có giá trị ứng dụng cao cho địa phương có quy mô hơn 81 nghìn dân. Lộ trình triển khai các giải pháp cần được thực hiện đồng bộ từ nay đến năm 2025, định hướng hoàn thiện vào năm 2030. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và chính quyền cơ sở hãy tham khảo, vận dụng kết quả nghiên cứu này để nâng cao hiệu lực quản lý văn hóa và phát triển bền vững đời sống tinh thần cộng đồng.