Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết chế văn hóa và khái quát hệ thống thiết chế văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam Chương 2: Công tác quản lý thiết chế văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết chế văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT CHẾ VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT HỆ THỐNG THIẾT CHẾ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 1. Một số khái niệm 1.
Thiết chế Trên thế giới, khái niệm về thiết chế được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Ở các nước phát triển như Mỹ và Canada, thiết chế được định nghĩa một cách khá đa dạng. Chẳng hạn, trong giáo trình “Xã hội học nhập môn” của hai nhà khoa học Mỹ là Bruce J.Cohen và Terri L. Orbuch có viết: “Thiết chế là một hệ thống các quy tắc, giá trị và cơ cấu tổ chức nhằm hướng tới một mục đích xác định” 19. Còn theo Robertsons: Thiết chế là một tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh một nhu cầu cơ bản của xã hội.
Ông cho rằng một xã hội muốn tồn tại và phát triển bình thường phải được hình thành trên những mô hình hành vi, những khuôn mẫu, khuôn phép chung để từ đó mỗi thành viên trong xã hội có thể soi vào đó mà hành động cho phù hợp 46. Ở một số nước phương Tây khác, thiết chế thường được nhắc đến trong 5 lĩnh vực: chính trị, tôn giáo, giáo dục, gia đình và kinh tế. Trong mỗi lĩnh vực cụ thể thì khái niệm về thiết chế lại được thao tác hóa với các chỉ số, chỉ báo, đặc trưng riêng. Theo đó, hoạt động văn hóa được quan niệm không tách rời ra một cách độc lập mà có mặt trong tất cả các thiết chế và thiết chế nào cũng có hai phần: một là các nguyên tắc, giá trị; hai là cơ cấu tổ chức.
Trong từ điển Xã hội học của G.Tromsdorff có định nghĩa thể chế và thiết chế với cùng một ý nghĩa như nhau, các tác giả đã chỉ ra rằng: 10 Thiết chế/thể chế điều chỉnh việc tái sinh (gia đình), truyền thụ năng lực, kỹ năng và kiến thức chuyên biệt (giáo dục), cung cấp thực phẩm và hàng hóa (kinh tế), giữa vững trật tự xã hội (chính trị) [32]. Ở Việt Nam, theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Lân (1998) thì: “Thể chế (thể: cách thức, chế: phép định ra) còn thiết chế (thiết: sắp đặt, chế: định ra)” 41 ; Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên (1992): “thể chế/thiết chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo” 43. Cũng theo Từ điển tiếng Việt (in lần thứ 3) do Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm biên soạn (1994): “ Thể chế còn gọi là thiết chế, là toàn bộ cơ cấu xã hội do luật pháp tạo nên” 48. Như vậy thiết chế và thể chế xã hội ở đây được định nghĩa ở tầm vĩ mô, mang tính tổng quát mà không xác định trong một bối cảnh cụ thể nào hay một hoạt động xã hội nào.
Trong Tập bài giảng Quản lý thiết chế văn hóa của tác giả Nguyễn Hữu Thức có nêu: Thiết chế là một tổ chức do con người lập ra có mối ràng buộc chặt chẽ ở bên trong giữa con người với công việc thông qua các quy tắc, quy định và điều kiện để thực hiện công việc theo ý muốn chủ quan của con người. Trong cuộc sống có các thiết chế: Thiết chế kinh tế, thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội [51]. Qua những định nghĩa trên, có thể hiểu thiết chế gắn với việc thiết lập hệ thống các quy chế, chương trình có tính quy định về sử dụng các cơ sở hạ tầng cũng như tổ chức các hoạt động liên quan đến một phạm vi cụ thể về kinh tế, văn hóa hoặc xã hội. Thiết chế là một tổ chức xã hội có kết cấu bên trong khá chặt chẽ.
Nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thường xuyên của con người, cho nên nó tồn tại bền vững trong đời sống xã hội. Thiết chế văn hóa Trong bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào, chế độ xã hội nào cũng cần có những thiết chế văn hoá để truyền tải các vấn đề về văn hoá - xã hội một cách chính thống của nhà nước đến các tầng lớp nhân dân, đồng thời cũng tại các thiết chế văn hóa đó sẽ tổ chức những hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao phù hợp với nhu cầu thưởng thức, hệ tư tưởng, đúng với các chuẩn mực đạo đức, lối sống của chế độ xã hội và giai đoạn lịch sử đó. Trong các văn bản chính thức của Việt Nam, thiết chế văn hóa được hiểu là toàn bộ các hoạt động văn hóa tư tưởng có tổ chức trong khuôn khổ của hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên trong thực tế nhiều trường hợp thiết chế văn hóa được hiểu một cách hạn hẹp hơn, khi sử dụng các cụm từ “thiết chế nhà văn hóa”, “thiết chế văn hóa ngoại thành”, “thiết chế văn hóa cơ sở”, “thiết chế văn hóa thể dục thể thao” 5.
Điều này cho thấy việc sử dụng khái niệm TCVH là không nhất quán, trong nhiều trường hợp làm cho chúng ta hiểu thiết chế như là một tổ chức vật chất thiên về hình thể như “thiết chế nhà văn hóa”, “thiết chế thư viện”…mà không thấy được các phần khác trong thiết chế xuất hiện như sự điều phối, kết nối. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: TCVH là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa 59. Như vậy, TCVH không chỉ đơn thuần là những công trình vật chất cụ thể mà bao hàm trong đó là hệ thống cơ chế, chính sách vận hành; đội ngũ nhân lực làm công tác quản lý, tổ chức; nguồn lực tài chính và các chủ thể hoạt động gọi chung là hệ thống thiết chế văn hóa. Hệ thống TCVH thiên về những thực hành, sáng tạo và trao truyền văn hóa giữa các thế hệ, giai tầng 12 trong cộng đồng dân cư.
Không có HTTCVH thì việc sáng tạo, quảng bá, trình diễn và hưởng thụ các giá trị văn hóa trở nên đơn điệu, nhàm chán. Cơ sở vật chất là yếu tố dễ thấy nhất trong hệ thống TCVH và nó cũng có mối liên hệ biện chứng với những yếu tố phi vật thể. Yếu tố cơ sở vật chất trong hệ thống thiết chế văn hóa, ngoài điện, đường, trường, trạm, còn có hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch quản lý bao gồm nhà văn hóa - khu thể thao ở thôn và tương đương, trung tâm VH-TT ở xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thành phố, tỉnh; hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, bao gồm: nhà thiếu nhi, cung thiếu nhi hoặc trung tâm hoạt động thanh, thiếu nhi; hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ công nhân, viên chức, người lao động bao gồm: nhà văn hóa lao động, cung văn hóa lao động, trung tâm VH- TT ở khu chế xuất, khu công nghiệp và trong các doanh nghiệp lớn; hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao thuộc các bộ, ngành, đoàn thể và lực lượng vũ trang, các cơ sở văn hóa, thể thao được đầu tư bằng nguồn vốn xã hội hóa, được quy định về nguyên tắc quản lý và định hướng phát triển. Những cơ sở vật chất trên đây phải đi liền với trang thiết bị, tổ chức bộ máy, số lượng và trình độ cán bộ.
Có như vậy, hệ thống thiết chế văn hóa mới phát huy hết vai trò quan trọng của mình. Ở góc độ khái quát nhất, khái niệm TCVH có thể hiểu theo các khía cạnh sau: - Là bộ phận vật chất quan trọng đảm bảo cho các hoạt động văn hóa được thực hiện như nhà văn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, thư viện, khu vui vơi giải trí, nhà thi đấu thể thao… - Là bộ máy tổ chức cho đơn vị văn hóa chuyên biệt như cán bộ nhân viên làm việc trong lĩnh vực văn hóa, cơ cấu tổ chức các phòng ban văn hóa chuyên môn. 13 - Là các chính sách, quy định mà các cơ quan văn hóa có thẩm quyền ban hành nhằm tạo ra cơ chế vận hành và nguyên tắc hoạt động của các đơn vị văn hóa. Quản lý Hoạt động quản lý được cho là xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm.
Quá trình lao động nhằm duy trì sự sống đòi hỏi sự phối hợp giữa các cá nhân, nếu không có quản lý thì rất khó để hoàn thành được công việc chung, năng suất lao động không đáp ứng sự mong đợi. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, quản lý cũng có những bước chuyển biến về chất, đa dạng và phát triển có tính kế thừa và sáng tạo. Hiện nay quản lý trở thành một hoạt động phổ biến diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với bản chất khoa học của quản lý, quản lý được công nhận thành một môn khoa học. Nghiên cứu về quản lý, C.
Mác đã khẳng định “Bất cứ nơi nào có lao động, nơi đó có quản lý” [20]. Bản chất của quản lý là: Nhằm thiết lập sự phối hợp các công việc giữa các cá nhân và thực hiện những chức năng chung nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ sở sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó [20]. Trong quá trình hình thành và phát triển lý luận quản lý, khái niệm quản lý đã được các nhà nghiên cứu đưa ra khác nhau, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau. Chẳng hạn, theo Paul Hersey và Ken Blanc Hard: Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức [42].
Còn tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt văn hóa, chính trị, kinh 14 tế, xã hội bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [27].