Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN THIẾT CHẾ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG 1. Khái niệm thiết chế văn hóa Cho đến nay khi nói cũng như ngay trong các văn bản chính thức vẫn có nhiều ý kiến khác nhau. Có thể tìm thấy nhiều định nghĩa khác nhau về thiết chế văn hóa. Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Lân do NXB Tp.
HCM ấn hành năm 2000, “thiết chế” là từ ghép “thiết” là “sắp đặt”, “chế” là “định ra, đặt ra”, thiết chế là điều đặt ra [42]. Theo Từ điển Tiếng Việt của Ban biên soạn chuyên từ điển New Era, do nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, phát hành 2005, “thiết chế” đồng nghĩa với “thể chế” [3, tr.1845], trong đó “thể chế” có hai nghĩa: (1) Cách thức; (2) Chế độ chính trị của một nước. Với cách cắt nghĩa trên, “thiết chế/ thể chế” là từ thuộc phạm trù xã hội có hàm nghĩa “chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã hội. Nhờ các thiết chế xã hội mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng” [32, tr.
Trong các khái niệm nêu trên đều thống nhất ở chỗ: thứ nhất, thiết chế xã hội bao gồm những cơ quan có nhiệm vụ xác lập những chuẩn mực xã hội, quy tắc xã hội nhằm hướng dẫn, giáo dục cho mọi tổ chức, cá nhân thực hành theo những chuẩn mực xã hội và quy tắc xã hội đã được xác lập; thứ hai, thiết chế xã hội bao gồm cả hệ thống tổ chức, giám sát đánh giá và điều chỉnh hành vi của các thành viên trong cộng đồng và đảm bảo sự ổn định đời sống, an sinh xã hội. Thuật ngữ “thiết chế văn hóa” được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hoá ở Việt Nam từ những năm 70 thế kỷ XX. Cũng như thiết chế xã hội, thiết chế văn hóa đảm trách nhiều lĩnh vực hoạt động văn hóa - xã hội, được cấu trúc trong một hệ thống bao gồm: 13 (1) Hệ thống các thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa có nhiệm vụ xây dựng những chuẩn mực văn hóa, quy tắc hoạt động văn hóa. (2) Hệ thống thiết chế văn hóa/ tổ chức văn hóa có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn các cá nhân và cộng đồng thực thi theo những chuẩn mực xã hội, quy tắc văn hóa đã được xác lập.
Theo đó, Nhà văn hóa, Trung tâm văn hóa thể thao, Nhà thiếu nhi, Cung Văn hóa lao động, Bảo tàng, Thư viện… thuộc hệ thống thiết chế thứ hai có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn các hoạt động văn hóa đáp ứng nhu cầu của cá nhân và cộng đồng. Tương tự như trên, Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp xã phường, khu phố hoặc Nhà văn hóa - Khu Thể thao liên ấp là thiết chế văn hóa cơ sở, tức là thiết chế cấp nhỏ nhất theo phân cấp hành chính (Trung ương, tỉnh/thành, quận/ huyện, xã/phường) hiện nay. Trên cơ sở phân tích trên, tác giả luận văn đưa ra khái niệm về thiết chế văn hóa cơ sở như sau: Thiết chế văn hóa cơ sở là một trung tâm tổ chức, hướng dẫn các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao được diễn ra chủ yếu trong thời gian nhàn rỗi nhằm đáp ứng các nhu cầu vui chơi, giải trí của cá nhân và cộng đồng. Thiết chế văn hóa dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều phải hội đủ bốn yếu tố tạo thành: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động.
Các yếu tố này là điều kiện tiên quyết cho các thiết chế văn hóa thực hiện các chức năng, nhiệm vụ xã hội của nó. Như vậy, trong thiết chế văn hóa, cơ sở vật chất là yếu tố dễ thấy nhất và nó cũng có mối liên hệ biện chứng với những yếu tố phi vật thể. Yếu tố cơ sở vật chất ngoài điện, đường, trường, trạm, còn có hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng thuộc ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý bao gồm: nhà văn hóa - khu thể thao ở thôn (ấp) và tương đương; trung tâm văn hóa - thể thao ở xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thành phố, tỉnh. Yếu tố cơ sở vật chất phải đi liền với trang thiết bị, bộ máy tổ chức, trình độ cán bộ, nguồn kinh phí [25].
Thiết chế văn hóa ở nước ta vận hành theo ba nguyên tắc: tính Đảng, tính hợp hiến và tính nhân dân. Tính Đảng là nguyên tắc quan trọng nhằm đảm bảo định 14 hướng chính trị của Đảng và Nhà nước trong hoạt động văn hóa. Tính hợp hiến nhằm đảm bảo mọi hoạt động văn hóa, thiết chế văn hóa phải tuân theo pháp luật. Tính nhân dân yêu cầu các hoạt động văn hóa phải xuất phát từ các lợi ích của nhân dân, gắn bó thiết thực với đời sống nhân dân, làm giàu đẹp thêm đời sống tinh thần của nhân dân [27, tr.
Chức năng và vai trò của thiết chế văn hóa 1. Chức năng của thiết chế văn hóa trong đời sống xã hội Nghiên cứu chức năng của thiết chế văn hóa trong đời sống xã hội không những mang ý nghĩa to lớn về mặt lý luận mà nó còn có tầm quan trọng trong hoạt động thực tiễn. Thiết chế văn hóa trong đời sống xã hội có các chức năng sau: - Chức năng giáo dục: sử dụng các phương tiện đặc thù của mình để tiến hành các hoạt động văn hóa, giáo dục phục vụ cho mục đích chung là tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tóm lại là giáo dục xã hội chủ nghĩa đối với nhân dân lao động qua trao đổi thông tin trực tiếp bằng các hoạt động như: tuyên truyền cổ động, văn nghệ quần chúng, hoạt động của các hiệp hội câu lạc bộ, hoạt động vui chơi giải trí. Nội dung giáo dục được quy vào các điểm chính như: Tuyên truyền Chủ nghĩa Mác – Lênin, hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cộng sản cho nhân dân lao động; Tuyên truyền giải thích các vấn đề thời sự, chính trị làm cho nhân dân thông hiểu các chủ trương, chính sách của Nhà nước; Phổ biến những thành tựu khoa học kỹ thuật, hướng dân nhân dân áp dụng những thành tựu ấy trong đời sống thực tiễn; Đập tan các luận điệu xuyên tạc, âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; Giáo dục về đạo đức, thiết chế văn hóa quan tâm tới việc xây dựng những chuẩn mực của con người mới xã hội chủ nghĩa, nếp sống văn minh xây dựng trên nguyên tắc “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; Giáo dục tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa, thái độ cộng sản đối với lao động, lao động có kỹ luật, có sáng tạo; Xây dựng hệ ứng xử mới, hệ nghi thức mới biểu hiện ở việc tang, việc cưới, giỗ, lễ, tết, hội…; Nêu gương người tốt việc tốt đi đôi với việc phê phán sự 15 bốc lột, thói ăn bám, chây lười, ích kỷ và các thói xấu khác, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan.
Giáo dục về thẩm mỹ, giáo dục quan điểm thẩm mỹ Mác - Lênin, xây dựng thị hiếu lành mạnh trong sáng tạo cũng như thưởng thức nghệ thuật như: xây dựng quan hệ thẩm mỹ tiến bộ trong sinh hoạt ăn, mặc, ở, thẩm mỹ trong giao tiếp, trong lao động và trong quan hệ với thiên nhiên; Thu hút quần chúng nhân dân tham gia hoạt động nghệ thuật không chuyên, phổ biến kiến thức phổ thông về nghệ thuật, tạo điều kiện cho nhân dân tiếp cận với những giá trị nghệ thuật của thế giới; Phê phán các quan điểm suy đồi trong hoạt động nghệ thuật. Giáo dục về thể dục thể thao, giáo dục những kiến thức phổ thông về vệ sinh phòng bệnh, bảo vệ sức khỏe và rèn luyện thể lực. Tóm lại, giáo dục là chức năng bao trùm, là thuộc tính bản chất của mọi hoạt động diễn ra tại các thiết chế văn hóa cơ sở. - Chức năng giao tiếp: là chức năng đặc thù của hoạt động nhà văn hóa, biểu hiện thông qua hoạt động của các hiệp hội câu lạc bộ, đọc sách báo, xem tranh…Trong điều kiện hiện nay, con người phải tiếp thu một lượng thông tin khổng lồ qua các kênh truyền thông đại chúng thì sự giao tiếp câu lạc bộ tại các thiết chế văn hóa cơ sở càng trở nên có ý nghĩa.
Hình thức giao tiếp hết sức phong phú. Có thể giao tiếp thông qua hoạt động diễn giảng, thông qua hoạt động chuyên đề, tạp chí miệng, sinh hoạt giải đáp thắc mắc, sinh hoạt lễ hội, đặc biệt sinh hoạt giao tiếp của các câu lạc bộ theo sở thích. - Chức năng phát triển khả năng sáng tạo của quần chúng: hoạt động sáng tạo không chuyên không chỉ nhằm vào hoạt động văn nghệ mà còn thể hiện trong nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, khoa học ứng dụng và trong lĩnh vực xã hội. Trong đó, hoạt động văn nghệ không chuyên được xem là có vai trò chủ chốt trong hoạt động sáng tạo của nhà văn hóa, gồm 3 dạng: biểu diễn văn nghệ; sáng tác văn nghệ; sưu tầm văn nghệ dân gian, ghi chép lịch sử địa phương như: viết về địa danh lịch sử, về tiểu sử danh nhân, viết địa phương chí.
- Chức năng đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi giải trí: đáp ứng nhu cầu giải tỏa căng thẳng, góp phần tạo ra tâm lý lạc quan, yêu đời cho mỗi người thông qua các 16 hoạt động như: trò chơi, trò diễn, nhảy múa, ca hát, ngày hội, các buổi sinh hoạt văn hóa, sinh hoạt câu lạc bộ. Đây cũng là một đặc điểm độc đáo của thiết chế văn hóa cơ sở: trong học có chơi, trong chơi có học [2]. Có thể hình dung thiết chế văn hóa như các mũi tên, trong đó văn hóa là cây cung của cộng đồng được con người sử dụng ngày càng thuần thục nhắm vào các đối tượng tự nhiên và xã hội để thu hoạch các thành quả sáng tạo nên môi trường đời sống xã hội [41]. Trong phạm vi đề tài đã xác định, tác giả đi sâu nghiên cứu hệ thống thiết chế văn hóa ở cơ sở phục vụ cộng đồng thuộc ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý bao gồm Nhà Văn hóa - Khu Thể thao liên ấp và Trung tâm Văn hóa - Thể thao ở cấp xã.
Vai trò của thiết chế văn hóa trong đời sống cộng đồng Xuất phát từ các lợi ích của nhân dân, thiết chế văn hóa đang hằng ngày, hằng giờ đồng hành với đời sống nhân dân và là một phần không thể thiếu của xã hội.