phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣơ ̣c trình bày 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý TBDN tại trƣờng cao đẳng nghề; Chƣơng 2: Thực trạng quản lý TBDN trong trƣờng cao đẳng nghề; Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý TBDN tại trƣờng cao đẳng nghề trong bối cảnh hiện nay. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY NGHỀ TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Nhà giáo dục học vĩ đại ngƣời Tiệp Khắc Komenski JA (1592-1679) đã đặt nền móng đầu tiên cho dạy học trực quan, với quan điểm cơ bản là: Dạy học đƣợc bắt đầu từ việc quan sát sự vật, hiện tƣợng, quá trình.
Trong tác phẩm “phép dạy học vĩ đại”, ông viết: “… không có gì trong trí não nếu nhƣ trƣớc đó không có gì trong các cảm giác. Vì thế, tất nhiên bắt đầu dạy học không thể từ sự giải thích bằng lời về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng. Lời nói không bao giờ đƣợc đi trƣớc sự vật”. Nhƣ vậy, Komenski đề cao một phƣơng pháp dạy học khuyến khích ngƣời học tự tiếp thu tri thức bằng chính những giác quan của mình.
Ông nhấn mạnh: “Cái có thể tri giác đƣợc hãy để cho học sinh tri giác bằng các giác quan của chúng, cái nhìn đƣợc hãy để cho nhìn, cái nghe đƣợc hãy để cho nghe. Đó là quy tắc “vàng” đối với ngƣời học, đối với dạy học”. Nhà giáo dục học ngƣời Thuỵ Sỹ Pestalossi JH (1746-1827) đã phát triển nguyên tắc dạy học trực quan của Komenski với tƣ tƣởng chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tri giác cảm tính với sự phát triển tƣ duy. Lê-nin khi phân tích bản chất của quá trình nhận thức cũng đã chỉ ra quy luật nhận thức của con ngƣời là: “từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng và từ tƣ duy trừu tƣợng đến thực tiễn là con đƣờng biện chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan”.
Nhƣ vậy, điểm qua sự phát triển của lý thuyết về thiế t bi ̣da ̣y ho ̣c (TBDH) trong lịch sử giáo dục thế giới, có thể thấy rằng vai trò của TBDH trực quan đã 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đƣợc phát hiện và phát triển từ rất sớm. Các nhà giáo dục học đã chứng minh đƣợc rằng việc khuyến khích ngƣời học tiếp thu kiến thức, rèn luyện kỹ năng thông qua TBDH là phƣơng pháp dạy học phù hợp với sự phát triển và do vậy nó là phƣơng pháp hữu hiệu nhất giúp ngƣời học phát triển kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tốt nhất. Ở Việt Nam Thừa kế và phát huy những lý thuyết về giáo dục của nền giáo dục học thế giới, Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về TBDH và quản lý việc sử dụng TBDH. Về vấn đề này, có thể kể đến các nhà khoa học Việt Nam tiêu biểu đã phát triển và truyền bá lý luận về nguyên tắc dạy học trực quan, đó là các nhà tâm lý học Phạm Minh Hạc, Hồ Ngọc Đại; các nhà giáo dục học Tô Xuân Giáp, Vũ Trọng Rỹ, Trần Khánh Đức… [11], [12], các tác giả này cho ta thấy đƣợc những vấn đề chung về TBDH nhƣ vai trò của TBDH trong hoạt động dạy học và những yêu cầu sƣ phạm khi lựa chọn và sử dụng TBDH.
Hiện nay, TBDH đƣợc xem nhƣ một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, là hệ thống các phƣơng tiện vật chất và kỹ thuật cần thiết đƣợc giáo viên và học sinh sử dụng trong hoạt động dạy và học, nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra. Trong lĩnh vực dạy nghề thì TBDH đóng vai trò cực kỳ quan trọng, nó là phƣơng tiện chính, chủ yếu để rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho ngƣời học. Chất lƣợng dạy nghề phụ thuộc rất nhiều vào chất lƣợng TBDH. Cùng với sự phát triển của kinh tế- xã hội, phát triển khoa học kỹ thuật, yêu cầu của xã hội về việc đào tạo con ngƣời ngày càng cao, yêu cầu con ngƣời phát triển toàn diện, hài hoà, đáp ứng yêu cầu phát triển của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thì TBDH của trƣờng học ngày càng phong phú, phức tạp về nhiều mặt.
TBDH là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình dạy học, góp phần vào quyết định chất lƣợng của nhà trƣờng. Thực tiễn của các nƣớc trên thế giới cũng nhƣ ở nƣớc 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ta cho thấy không thể đào tạo con ngƣời phát triển toàn diện theo yêu cầu phát triển của xã hội nếu không có TBDH phù hợp. Các tác giả nhƣ: Đặng Quốc Bảo [3] [4], Nguyễn Đức Chính [8], Đặng Xuân Hải [13], Nguyễn Thị Mỹ Lộc [21], Nguyễn Quốc Chí [7], Trần Khánh Đức [11], Nguyễn Thị Phƣơng Hoa [15],. các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả nói trên đã xây dựng hệ thống lý luận cốt lõi cho việc vận dụng khoa học quản lý vào nhà trƣờng, trong đó có quản lý thiết bị dạy học nói chung và quản lý TBDN nói riêng.
Quản lý TBDN là quản lý nguồn lực lớn của toàn hệ thống dạy nghề, nó quyết định đến chất lƣợng dạy nghề, góp phần không nhỏ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc thời kỳ 2011-2020. Khái niệm công cụ của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý là một hiện tƣợng tự nhiên của xã hội, nó xuất hiện từ rất sớm.
Con ngƣời trong hoạt động của mình, để đạt đƣợc mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tƣợng bằng cách nào đó theo khả năng của mình. Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu đƣợc kế hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động. Nhƣ vậy quản lý tất yếu nảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách quan đƣợc ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và trong mọi thời đại. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.
Ở góc độ quản lý với tƣ cách là một chức năng xã hội dƣới dạng chung nhất thì quản lý đƣợc xác định là cơ chế để thực hiện sự tác động có mục đích nhằm đạt đƣợc những kết quả nhất định. Đề cập đến hoạt động quản lý, ngƣời ta thƣờng nhắc đến ý tƣởng sâu sắc của Marx: 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “một nghệ sĩ vỹ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trƣởng”. Marx coi việc xuất hiện của quản lý nhƣ một dạng hoạt động đặc thù của con ngƣời đƣợc gắn liền với sự phân công và hợp tác lao động; quản lý là kết quả tất yếu của sự chuyển những quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao động xã hội đƣợc tổ chức lại: “trong tất cả những công việc mà có nhiều ngƣời hợp tác với nhau thì mối liên hệ chung và sự thống nhất của quá trình tất phải biểu hiện ra ở trong một ý chí điều khiển và trong những chức năng không có quan hệ với những công việc bộ phận, mà quan hệ với toàn bộ hoạt động của công xƣởng, cũng giống nhƣ trƣờng hợp nhạc trƣởng của một dàn nhạc vậy. Đó là một thứ lao động sản xuất cần phải đƣợc tiến hành trong một phƣơng thức sản xuất có tính chất kết hợp” [21].
Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống, quản lý là “phƣơng thức tác động có chủ đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ thống các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tƣợng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lí của cơ cấu và đƣa hệ thống sớm đạt đƣợc những mục tiêu dự kiến” [16]. Còn ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý cũng bàn nhiều về khái niệm quản lý. Theo từ điển tiếng Việt: Quản lý (mang nghĩa của động từ) nghĩa là: Quản là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. Hai tác giả Nguyễn Quố c Chí và Nguyễn Thi ̣Mỹ Lô ̣c nhấ n ma ̣nh khía ca ̣nh quản lý là chức năng đặc biệt của mọi tổ chức : “hoạt động quản lý là tác động có đinh ̣ hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý ) đến khách thể quản lý (ngƣời bi ̣quản lý ) trong mô ̣t tổ chƣ́c nhằ m làm cho tổ chƣ́c vâ ̣n hành và đa ̣t đƣơ ̣c mu ̣c đích của tổ chƣ́c” [6].
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Đặng Quốc Bảo “quản lý một tổ chức là nhằm đạt đến sự ổn định và phát triển bền vững các quá trình xã hội, quá trình tồn tại của tổ chức đó ” [3]. Tác giả Nguyễn Văn Lê quan niệm. "quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phƣơng pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ" 20. Những quan niệm về quản lý trên đây tuy có cách tiếp cận khác nhau, nhƣng có thể nhận thấy chúng đều bao hàm một nghĩa chung, đó là: Quản lý là các hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân, đảm bảo hoàn thành các công việc và là phƣơng thức tốt nhất để đạt đƣợc mục tiêu chung của tập thể; Quản lý là quá trình tác động có định hƣớng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trƣờng biến động để hệ thống ổn định phát triển, đạt đƣợc những mục tiêu đã định.
Tóm lại, quản lý là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, những hành vi hoạt động của con người, huy động tối đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích theo ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan.