Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý thiế t bi dạy ̣ học ở trường phổ thông. Thực trạng quản lý thiế t bi ̣ dạy học ở các trường trung ho ̣c phổ thông Ân Thi, trung ho ̣c phổ thông Phạm Ngũ Lão huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Biện pháp quản lý thiế t bi ̣ dạy học ở các trường trung ho ̣c phổ thông huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BI ̣ DẠY HỌC Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1. Tổ ng quan nghiên cƣ́u vấ n đề 1. Trên thế giới “Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất”, Các Mác, Ăngghen và Lênin đã chỉ rõ vai trò quyết định của công cụ lao động đối với sự phát triển của xã hội loài người, là một trong ba yếu tố không thể thiếu của bất kỳ quá trình lao động nào, là yếu tố động nhất, cách mạng nhất. Trực quan trong dạy học là một nguyên tắc của lý luận dạy học.
Từ cổ tới kim, những nhà GD theo chủ nghĩa nhân văn đã đưa những PPDH tích cực, phát triển tư duy của HS vào QTDH. Họ cho rằng trực quan được sử dụng ở những chỗ mà lời nói không đủ để đảm bảo cho HS hiểu thấu và vận dụng sự hiểu biết vào thực tiễn cuộc sống. Hoạt động nhận thức của người học đạt được mục đích học tập theo đúng con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Dựa trên quan niệm của phép duy vật lịch sử thì TBDH là những công cụ lao động, là phương tiện trực quan trong hoạt động dạy và học của thầy và trò.
Nhờ có TBDH mà “làm dài thêm” cơ quan cảm giác của con người, cho phép con người đi sâu vào thế giới vật chất nằm sau giới hạn tri giác của các giác quan thông thường - Từ thế giới vĩ mô ( thiên hà, mặt trời, sao.) đến thế giới vi mô (nguyên tử, prôton, nơtrôn, quac. Thế kỷ XXI trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của KH- KT và sự phát triển như vũ bão của CNTT thì tính trực quan trong dạy học đảm bảo cho người học nhận biết sâu sắc, nhanh chóng các sự vật, hiện tượng, quá trình,…phân tích, tổng hợp tri thức một cách khoa học, dễ dàng hơn, do đó TBDH ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học trong nhà trường. Trong trường học, TBDH được xem là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện nhiệm vụ GD, nhằm cung cấp vốn tri thức mà loài người tích luỹ được 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho người học đồng thời kích thích năng lực tư duy sáng tạo cũng như áp dụng vào cuộc sống năng động của người học và XH nói chung. Nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc Kômensky (1592 - 1679) đã đặt nền móng đầu tiên cho dạy học trực quan, với quan điểm cơ bản là: Dạy học được bắt đầu từ quan sát sự vật, hiện tượng, quá trình.
Trong tác phẩm: “Phép dạy học vĩ đại ” ông viết: “Cái gì có thể tri giác được hãy để cho nhìn, cái nghe được hãy để cho nghe…đó là quy tắc vàng đối với trẻ em, đối với dạy học.” Nhà giáo dục người Nga Usinsky (1824-1870) và các học trò của ông tiếp tục phát triển nguyên tắc dạy học trực quan dựa trên các thành tựu mới về tâm lý học và sinh lý học. Ông khẳng định trực quan là cái ban đầu, là nguồn gốc của tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ. Usinsky viết: “Không có cái gì có thể giúp anh san bằng bức tường ngăn cách giữa giáo viên và học sinh như là việc anh đưa cho học sinh xem một bức tranh và giải thích nó, đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng, bằng màu sắc, âm thanh và bằng cảm giác nói chung”. Nhà giáo dục lỗi lạc người Thụy Sỹ J.Pestalossi (1746-1827) đã phát triển nguyên tắc dạy học trực quan của Kômensky với tư tưởng chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tri giác cảm tính với sự phát triển tư duy.
Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý, giáo dục học, lý thuyết về dạy học trực quan cũng có những bước tiến mới. Người ta đã nhận thức được rằng vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học không chỉ dừng ở việc giúp học sinh nhận biết hiện tượng mà còn nắm được bản chất của sự vật hiện tượng. Một trong những đại diện của tư tưởng này, có thể kể đến tâm lý học Xô – viết hiện đại. Trong hệ thống tư tưởng của mình về hoạt động và hoạt động trí óc (bên trong và bên ngoài), Leontiev đã đưa ra quan điểm về cơ sở tâm lý học của nguyên tắc dạy học trực quan.
Lê-nin khi phân tích bản chất của quá trình nhận thức cũng đã chỉ ra quy luật nhận thức của con người là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức hiện tượng khách quan”. Năm 1984 hội nghị quốc tế về GD lần thứ 39 họp tại Giơ-ne-vơ cũng như nhiều hội nghị về TBDH ở các nước XHCN đã khẳng định ngành giáo dục cần phải 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được đổi mới thường xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBDH và phương pháp để tạo cho tất cả các HS có những cơ hội học tập. Tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế, kỹ thuật và xã hội tất cả các nước trên thế giới đều có khuynh hướng hoàn thiện CSVC và TBDH nhằm phù hợp với sự hiện đại hoá nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy - học. Các nước có nền kinh tế phát triển đều quan tâm đến việc nghiên cứu, thiết kế, sản xuất các TBDH hiện đại đạt chất lượng cao, cần thiết cho nhu cầu phát triển mỗi nước như Tiệp Khắc, Hungari, Pháp, Mỹ, Đức,… Ở Nhật Bản từ những năm 1960 đã tổ chức nghiên cứu mẫu và sản xuất phim giáo khoa dùng trong nhà truờng.
Năm 1984 nước Nhật có 29 trung tâm nghe nhìn. Năm 1992, kết quả điều tra về trang bị máy tính ở Nhật cho thấy bậc tiểu học đạt 50%, bậc trung học cơ sở đạt 86,1%, bậc trung học phổ thông được 99,4%. Ở Malaysia, trong kế hoạch 1986 - 1991 đã trang bị cho 365 trung tâm nghe nhìn cấp huyện và 4229 trung tâm nghe nhìn của các trường tiểu học ở nông thôn (cả nước có 6795 trường tiểu học). Đến năm 1992 đã thực hiện được trên 1700 chương trình truyền thanh học đường và 416 chương trình truyền hình giáo dục phổ thông.
Ở Mỹ và các nước châu Âu cũng như một số nước trong khu vực châu Á và Thái Bình Dương như Inđônêxia, Thái Lan, Xingapo,… người ta thay thế dần tranh sách giáo khoa in trên giấy bằng các hình trên màn tivi. Như vậy thông tin cung cấp phong phú và hấp dẫn hơn, việc bảo quản, vận chuyển, sử dụng có nhiều mặt thuận lợi hơn. Trong nước Thừa kế và phát huy những lý luận về giáo dục của nền giáo dục học thế giới, Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về TBDH và quản lý việc sử dụng TBDH. Về vấn đề này, có thể kể đến các nhà khoa học Việt Nam tiêu biểu đã phát triển và truyền bá lý luận về nguyên tắc dạy học trực quan đó là các nhà tâm lý học Phạm Minh Hạc, Hồ Ngọc Đại; các nhà giáo dục học Tô Xuân Giáp, Vũ Trọng Rỹ, Trần Khánh Đức… các tác giả này cho ta thấy được vấn đề chung về TBDH như vai trò của TBDH trong hoạt động dạy học và những yêu cầu sư phạm khi lựa chọn và sử dụng TBDH.
Năm 2005, Chủ nhiệm đề tài Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ về: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm GDTX và trung tâm học tập cộng đồng” mã số B 2004 -53 -17; tác giả khẳng định vai trò quan trọng của TBDH trong các hoạt động giảng dạy, giáo dục và học tập, đó là “… TBDH là một bộ phận, là một là một thành tố, vừa là một phương tiện, một phương hướng, vừa hàm chứa nội dung của quá trình dạy học, đồng thời tạo hứng thú nhận thức cho học viên. TBDH là một trong những điều kiện giúp giáo viên và học viên thực hiện tốt phương châm dạy học phát huy tính tích cực của học viên, tích cực hóa quá trình nhận thức, quá trình tư duy của học viên lớn tuổi… ”, đồng thời tác giả đã đưa ra hệ thống 8 giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của việc trang bị, sử dụng và bảo quản TBDH. Năm 2008, luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng với đề tài “Biện pháp quản lý CSVC kỹ thuật trường THPT chuẩn quốc gia Thành phố Hải Phòng” đã đánh giá thực trạng công tác xây dựng và quản lý CSVC trường học ở các trường THPT chuẩn quốc gia của Thành phố Hải Phòng. Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này trên địa bàn nói chung và trong các trường THPT chuẩn quốc gia nói riêng… Nhưng ở nước ta TBDH còn thiếu nhiều so với yêu cầu, vì vậy, vấn đề đặt ra cho các nhà QLGD là cần thiết phải nghiên cứu thực trạng TBDH của đơn vị mình, xây dựng kế hoạch đầu tư mua sắm TBDH và quản lý có hiệu quả việc sử dụng, bảo quản TBDH phù hợp với điều kiện vùng miền và địa phương mình.
Nằm trong bối cảnh chung của tình hình GD của cả nước thời mở cửa, hội nhập và toàn cầu hoá, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên có những đặc điểm và nét đặc thù riêng về điều kiện lịch sử KT - XH, văn hóa – giáo dục. Trong những năm qua ở huyện Ân Thi việc điều tra khảo sát, đánh giá về công tác quản lý TBDH ở các trường THPT chưa được quan tâm đúng mức và chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể. Mô ̣t số khái niêm ̣ cơ bản của đề tài 1. Quản lý Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.