CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG PTDTNT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Nhà giáo dục học người Nga Usinski (1824-1870) và các học trò của ông tiếp tục phát triển nguyên tắc dạy học trực quan dựa trên các thành tựu mới về tâm lý học và sinh lý học. Ông khẳng định trực quan là cái ban đầu, là nguồn gốc của tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ.
Usinski viết: “Không có cái gì có thể giúp anh san bằng bức tường ngăn cách giữa GV và HS như là việc anh đưa cho HS xem một bức tranh và giải thích nó, đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng, bằng màu sắc, âm thanh và bằng cảm giác nói chung”. Nhà giáo dục học vĩ đại người Tiệp Khắc J. Komenski (1592-1679) đã đặt nền móng đầu tiên cho dạy học trực quan, với quan điểm cơ bản là: Dạy học được bắt đầu từ việc quan sát sự vật, hiện tượng, quá trình. Trong tác phẩm “Phép dạy học vĩ đại”, ông viết: “…không có gì trong trí não nếu như trước đó không có gì trong các cảm giác.
Vì thế, tất nhiên bắt đầu dạy học không thể từ sự giải thích bằng lời về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng. Lời nói không bao giờ được đi trước sự vật”. Như vậy, Komenski đề cao một phương pháp dạy học khuyến khích người học tự tiếp thu tri thức bằng chính những giác quan của mình. Ông nhấn mạnh: “Cái có thể tri giác được hãy để cho HS tri giác bằng các giác quan của chúng, cái nhìn được hãy để cho nhìn, cái nghe được hãy để cho nghe.
Đó là quy tắc “vàng” đối với trẻ em, đối với dạy học”. Nhà giáo dục học lỗi lạc người Thuỵ Sỹ J. Pestalossi (1746-1827) đã phát triển nguyên tắc dạy học trực quan của Komenski với tư tưởng chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tri giác cảm tính với sự phát triển tư duy. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý, giáo dục học, lý thuyết về dạy học trực quan cũng có những bước tiến mới.
Người ta đã nhận thức được rằng vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học không chỉ dừng ở việc giúp HS nhận biết hiện tượng mà còn nắm được bản chất của sự vật hiện tượng. Một trong những đại diện của tư tưởng này, có thể kể đến nhà tâm lý học A. Leontiev (1903-1979), ông là một đại diện xuất sắc thuộc trường phái tâm lý học Xô-viết hiện đại. Trong hệ thống tư tưởng của mình về hoạt động và hoạt động trí óc (bên trong và bên ngoài), Leontiev đã đưa ra quan điểm về cơ sở tâm lý học của nguyên tắc dạy học trực quan.
Lê-nin khi phân tích bản chất của quá trình nhận thức cũng đã chỉ ra quy luật nhận thức của con người là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan”. Như vậy, điểm qua sự phát triển của lý thuyết về TBDH trong lịch sử giáo dục thế giới, có thể thấy rằng vai trò của TBDH trực quan đã được phát hiện và phát triển từ rất sớm. Các nhà giáo dục học đã chứng minh được rằng việc khuyến khích HS nhận thức thế giới thông qua chính những giác quan của mình là phương pháp dạy học phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ do vậy nó là phương pháp hữu hiệu nhất giúp trẻ em phát triển tư duy, nhận biết hiện tượng và tiến tới nắm được bản chất của sự vật hiện tượng. Ở Việt Nam Thừa kế và phát huy những lý thuyết về giáo dục của nền giáo dục học thế giới, Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về TBDH và quản lý việc sử dụng TBDH.
Về vấn đề này, có thể kể đến các nhà khoa học Việt Nam tiêu biểu đã phát triển và truyền bá lý luận về nguyên tắc dạy học trực quan, đó là các nhà tâm lý học Phạm Minh Hạc, Hồ Ngọc Đại; các nhà giáo dục học Tô Xuân Giáp, Vũ Trọng Rỹ, Trần Khánh Đức… các tác giả này cho ta thấy được những vấn đề chung về TBDH như vai trò của TBDH trong hoạt động dạy học và những yêu cầu sư phạm khi lựa chọn và sử dụng TBDH. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2005, Chủ nhiệm đề tài Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ về: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm GDTX và trung tâm học tập cộng đồng” mã số: B 2004 - 53 -17; tác giả khẳng định vai trò quan trọng của TBDH trong các hoạt động giảng dạy, giáo dục và học tập, đó là: “….TBDH là một bộ phận, là một thành tố không thể thiếu được của quá trình dạy, học tích cực. TBDH vừa là một thành tố, vừa là một phương tiện, một phương hướng, vừa hàm chứa nội dung của quá trình dạy và học, đồng thời tạo hứng thú nhận thức cho học viên. TBDH là một trong những điều kiện giúp GV và học viên thực hiện tốt phương châm dạy học phát huy tính tích cực của học viên, tích cực hoá quá trình nhận thức, quá trình tư duy của học viên lớn tuổi…”, đồng thời tác giả đã đưa ra hệ thống 8 giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của việc trang bị, sử dụng và bảo quản TBDH.
Năm 2008, luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Sở GD&ĐT Hải Phòng với đề tài “Biện pháp quản lý CSVC kỹ thuật trường THPT chuẩn quốc gia Thành phố Hải Phòng” đã đánh giá thực trạng công tác xây dựng và quản lý CSVC trường học ở các trường THPT chuẩn quốc gia của Thành phố Hải Phòng. Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này trên địa bàn nói chung và trong các trường THPT chuẩn quốc gia nói riêng. Năm 2011, luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Thế Vinh, Sở GD&ĐT Thái Bình với đề tài “Quản lý TBDH ở các trường trung học phổ thông của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay” đã đánh giá thực trạng công tác xây dựng và quản lý CSVC trường học ở các trường THPT của tỉnh Thái Bình. Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này.
Như vậy, có thể nói rằng công tác quản lý TBDH có vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác TBDH ở mỗi nhà trường. Bởi 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vì, nó giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về trình độ, tốc độ phát triển TBDH và mức độ ảnh hưởng của nó tới công nghệ dạy học ở trong nước, khu vực và trên thế giới. Đánh giá được thực trạng của TBDH, quá trình đầu tư, mua sắm, bảo quản và chất lượng sử dụng, khai thác TBDH ở nhà trường, từ đó hoạch định chiến lược phát triển TBDH một cách lâu dài là việc làm hết sức cần thiết, cấp bách đối với CBQL ở các nhà trường. Cho đến nay việc nghiên cứu quản lý TBDH ở các trường THPT nói chung và ở các trường PTDTNT nói riêng của tỉnh Điện Biên chưa đề tài nào đề cập đến.
Đây là lý do để tác giả nghiên cứu một số biện pháp quản lý việc trang bị, bảo quản và sử dụng hiệu quả TBDH ở các trường PTDTNT của tỉnh Điện Biên. Một số khái niệm 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Con người trong hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình.
Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động… Như vậy quản lý tất yếu nảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại. Ở góc độ quản lý với tư cách là một chức năng xã hội dưới dạng chung nhất thì quản lý được xác định là cơ chế để thực hiện sự tác động có mục đích nhằm đạt được những kết quả nhất định. Đề cập đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K.Marx: “Một nghệ sĩ vỹ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”.[17] Marx coi việc xuất hiện của quản lý như một dạng hoạt động đặc thù của con người được gắn liền với sự phân công và hợp tác lao động; quản lý là kết quả tất yếu của sự chuyển những quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lập với nhau thành một quá trình lao động xã hội được tổ chức lại: “Trong tất cả những công việc mà có nhiều người hợp tác với nhau thì mối liên hệ chung và sự thống nhất của quá trình tất phải biểu hiện ra ở trong một ý chí điều khiển và trong những chức năng không có quan hệ với những công việc bộ phận, mà quan hệ với toàn bộ hoạt động của công xưởng, cũng giống như trường hợp nhạc trưởng của một dàn nhạc vậy. Đó là một thứ lao động sản xuất cần phải được tiến hành trong một phương thức sản xuất có tính chất kết hợp”.
Taylo (1856-1915) người Mỹ được coi là “Cha đẻ của Thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên vàng” trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và đều phải quản lý chặt chẽ”. Ông cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất”.[17] Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống, quản lý là: “Phương thức tác động có chủ đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ thống các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt được những mục tiêu dự kiến”.