mở đầu rất quan trọng trong mỗi chu kỳ quản lý ngân sách nhà nước. Các đơn vi sự nghiệp có thu cho dủ là đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chỉ phí cho hoạt động thưởng xuyên hay tự đảm bảo một phần ch phí hoạt động thưởng. xuyên, đều là đơn vị dự toán ngân sách. Vì vậy, việc tuân thủ đầy đủ các yêu cầu, các nguyên tắc trong quản lý ngân sách theo quy định là lề đương nhiên đỏi hỏi các đơn vi sự nghiệp có thu phải thực hiện, Dự toán ngân sách hàng năm của các đơn vị phải phan ánh đầy đủ các khoản thu, chỉ theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thâm quyền ban hành, kể cả các khoản thu, chỉ từ nguồn thu được tạo ra trong quá trình hoạt động sự nghiệp.
Cùng với việc lập dự toán thu, chỉ, trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chỉ tiêu tài chính hiện hành của nhà nước, đơn vị chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chỉ tiêu nội bộ đẻ đảm bảo hoạt động thường xuyên cho. 1I phủ hợp với hoạt động đặc thủ của đơn vị và tăng cường công tác quản lý, sử dụng kinh phí tiết kiệm có hiệu quả. Tổ chức thực hiện dự toán + Chấp hành ngân sách nhà nước được coi là khâu có ý nghĩa quyết định tới chất lượng của mỗi chu trình quản lý ngân sách nhà nước. Tại đây, những mong muốn, những dự đoán về thu, chỉ ngân sách có trở thành hiện thực hay không là tùy thuộc vào khá năng điều hành và quản lý tài chính của đơn vị Trong quá trình chỉ tiêu, các đơn vị sự nghiệp có thu phải tổ chức quản lý chặt chẽ, tôn trọng dự toán được duyệt, các chế độ, tiêu chuân, định mức chỉ tiêu do nhà nước quy định về vật tư, lao động, tiền vốn.
Sử dụng có hiệu quả, thực hiện đúng tiến độ công việc theo kế hoạch. + Về căn cứ chấp hành dự toán: Tắt cả các khoản thu của đơn vị phải dựa trên dự toán đã được phê duyệt phù hợp với định mức thu sự nghiệp do nhà nước quy. + VỀ công tác kiểm soát thu, chỉ đối với nguồn thu sự nghiệp: Căn cứ quyết định giao chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch năm của đơn vị dự toán cấp 1, các đơn vị dự toán cấp II trực thuộc lập dự toán thu, chỉ nguồn sự nghiệp theo hàng quý, hàng. tháng và báo cáo cho đơn vị dự toán cấp I chỉ tiết các khoản thực thu, thực chi đê làm cơ sở kiêm tra va i co quan tài chính để ghi thu ngân sách nhà nước.
và ghỉ chỉ cho đơn vị. + Về công tác kiểm soát thu, chỉ đối với nguồn ngân sách nhà nước: Trên cơ sở dự toán năm, quý đã được duyệt và nhiệm vụ phải thực hiện trong quý , se don vi sự nghiệp có thu lập kế hoạch sử dụng kinh phí chỉ tiết theo các mục chỉ của mục. lục ngân sách gửi Kho bạc nhà nước (BAN) nơi đơn vị mở tài khoản để được cấp phát và sử dụng kinh phí. Sau khi kết thúc quý, đơn vị phải làm giấy đề nghị thanh toán tạm ứng gửi KBNN để được Kho bạc quyết toán phần kinh phí đã tạm ứng và tiếp tục cấp phát kinh phí cho quý tiếp theo.
+ Về điều chỉnh dự toán: Trong quá trình thực hiện, đơn vị được điều chinh dự toán thu, chỉ hoạt động sự nghiệp, kinh phí thường xuyên đã được giao cho phù hợp với tình hình thực tế gửi cơ quan chủ quản và kho bạc nhà nước để theo dõi, quản lý. 13 Cuối năm ngân sách, các khoản kinh phí chưa sử dụng hết đơn vị được chuyển sang năm sau để hoạt động, bao gồm kinh phí ngân sách nhà nước cấp đảm bảo hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự nghiệp. Quyết toán Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng của chu trình quản lý kinh phí trong tự nghiệp nhằm kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại toàn bộ số liệu đã được. kế toán đơn vị phản ánh sau một kỳ hoạt động cho chính xác Đồng thời tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của quá trình chấp hành ngân sách đề phục vụ cho việc thuyết minh quyết toán.
Các đơn vị sự nghiệp có thu phái tổ chức công tác kế toán, thống kê và báo cáo. tải chính theo các quy định của pháp luật về chế độ kế toán thống kê áp dụng cho. các đơn vị hành chính sự nghiệ Hệ thống chỉ tiêu báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải phù hợp, thống nhất với chỉ tiêu dự toán năm tải chính và Mục lục ngân sách nhà nước, đảm. bảo có thể so sánh được giữa số thực hiện với số dự toán và giữa các kỳ kế toán với nhau.
Báo cáo tải chính, báo cáo quyết toán ngân sách dùng đề tông hợp tình hình về tai sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí ngân sách của nha nude. Tình hình thu, chỉ và kết quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu trong kỳ kế toán, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh thực trạng của đơn vị, là căn cứ quan trọng giúp cơ quan nhà nước, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám sát điều hành hoạt động của đơn vi Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải lập đúng, phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu theo mẫu, phải lập đúng kỳ hạn, nộp đúng thời hạn tới cơ quan tải chính và cơ quan thông kê , Kho bạc nhà nước nơi giao dịch đễ phối hợp kiểm tra, đối chiếu, điều chinh số liệu kế toán liên quan đến thu, chỉ ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị 14 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp có thu 1. Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước Cơ chế quản lý tải chính của Nhà nước tạo ra môi trường pháp lý cho việc tạo.
lập và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động của đơn vị. Nó được xây dựng dựa trên quan điểm định hướng về chính sách quản lý đơn vị sự nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể của Nhà nước nhằm cụ thê hoá các chính sách đó. Cơ chế này sẽ vạch ra các khung pháp lý về mô hình quán lý tài chính của đơn vị sự nghiệp, từ việc xây dựng các tiêu chuẩn, định mức, các quy định về lập dự toán, điều chinh dự toán, cấp phát kinh phi tra, kiểm soát. nhằm phát huy tối đa hiệu quả quản lý vĩ mô gắn với tỉnh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị.
Do đó, nếu cơ chế tải chính phủ hợp sẽ tạo điều kiện tăng cường và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động và hữu hiệu của các nguồn lực tải chính, giúp cho đơn vị sự nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn được giao. Co ché quan ly tai chính của Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp có tác động đến chương trình chỉ tiêu ngân sách quốc gia, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia về hoạt động sự nghiệp. Vì vậy, cơ chế tài chính đó nếu được thiết lập phủ hợp, ệu quả sẽ đảm bảo cung ứng đủ nguồn kinh phí cho hoạt động chuyên môn, tránh được thất thoát, lăng phí các nguồn lực. chính, đảm bảo phát huy tối đa hiệu quá, tiền đề ật chất cho việc thực hiện tốt các.
chương trình quốc gia về hoạt động sự nghiệp. “Thêm vào đó, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước còn có vai trò như một cán cân công lý, đảm bảo sự công bằng, hợp lý trong việc tao lập và phân phối sử dụng. các nguồn lực tải chính giữa các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp khác nhau cũng như giữa các đơn vị sự nghiệp trong cùng một lĩnh vực. Nhờ đó, các đơn vị sự nghiệp dù hoạt động ở đâu, lĩnh vực nào cũng được quan tâm, tạo môi trường bình đẳng, tạo điều kiện phát triển tương xứng với yêu cầu của xã hội đối với lĩnh vực đó và tiểm lực kinh tế của quốc gia.
15 Bên cạnh đó, cơ chế quán lý tài chính cũng có những tác động tiêu cực đối với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp: Cơ chế quản ly tai chính của Nhà nước vạch ra hành lang pháp lý cho đơn vị sự nghiệp nhưng nếu các cơ chế này không phủ hợp sẽ trở thành hàng rào trói buộc, cản trở đến quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính của các đơn vị sự nghiệp, ảnh hướng xấu đến kết quả hoạt động chuyên môn của đơn vị. Nếu cơ chế quan ly tài chính của Nhà nước sơ hớ, lỏng lẻo có thể làm hao tổn ngân sách Nhà nước, gây ra thất thoát, lăng phí các nguồn lực tài chính khác mà không đạt được các mục tiêu chính trị, xã hội đã định. Mặt khác, hiện nay Nhà nước chưa có văn bản pháp quy về mô hình và cơ chế tai chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp trong doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp chú quản phải chủ đông vận dụng theo các văn bản pháp quy áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp hưởng nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước để đề ra các quy chế quản lý tải chính cho các đơn vị sự nghiệp nằm trong doanh nghiệp mình.
Cơ chế quản lý tài chính của Bộ, ngành, doanh nghiệp chủ quản Các đơn vị sự nghiệp nằm trong doanh nghiệp sẽ phải tuân thú theo cơ chế quan lý tài chính của doanh nghiệp chủ quản. ngoài cơ chế quản lý của Nhà nước, các đơn vị này còn có một cơ chế quản lý tải chính riêng cho những đặc thù của. ngành với các quy định cụ thể, rõ ràng, tránh được những vướng mắc về cơ chế chung không phủ hợp với đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp. Mặt khác, các doanh nghiệp quản lý các đơn vị sự nghiệp thường là những doanh nghiệp lớn, có tiềm lực kinh tế mạnh nên nguồn kinh phí do doanh nghiệp chủ quản đài thọ cho đơn vị sự nghiệp thường nới rộng hơn so với nguồn kinh phí cấp phát từ ngân sách Nhà nước, điều kiện cấp phát kinh phí cũng được nới lỏng.
hơn nên các đơn vị sự nghiệp có điều kiện về nguồn kinh phí dé trang trải cho hoạt động sự nghiệp của mình hơn so với các đơn vị sự nghiệp không nằm trong doanh nghiệp.