CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI QUỸ TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về Quỹ tài chính Nhà nước 1. Khái niệm Quỹ tài chính Nhà nước - “Quỹ TCNN là các quỹ tiền tệ tập trung do Nhà nước thành lập, quản lý và sử dụng để thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể, hoạt động độc lập với NSNN, cung cấp nguồn lực tài chính cho việc xử lý những biến động bất thường trong quá trình phát triển kinh tế để hỗ trợ thêm cho NSNN trong trường hợp khó khăn về nguồn lực tài chính. Quỹ TCNN có các giao dịch tài chính đại diện cho khu vực Chính phủ chung trong nền kinh tế nhưng không được đưa vào dự toán ngân sách thường niên của Nhà nước hoặc ngân sách của các cấp chính quyền địa phương.
Các quỹ TCNN vẫn chịu sự quản lý của chính quyền nhưng được tách ra khỏi ngân sách và có tính độc lập nhất định” (Quản lý tài chính công, Học viện Tài chính, 2016). - Theo Luật NSNN 2015: "Quỹ TCNN là quỹ do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập, hoạt động độc lập với NSNN, nguồn thu, nhiệm vụ chi của quỹ để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Các quỹ TCNN là các quỹ tiền tệ tập trung do Nhà nước thành lập, quản lý và sử dụng nhằm cung cấp nguồn lực tài chính cho việc xử lý những biến động bất thường trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và để hỗ trợ thêm cho NSNN trong trường hợp gặp khó khăn về nguồn tài chính". Sự hình thành Quỹ tài chính Nhà nước - Các quỹ TCNN được thành lập nhằm huy động nguồn lực tài chính để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân, hỗ trợ Nhà nước khắc phục khiếm khuyết của kinh tế thị trường và chuyển dần sang cơ chế thị trường.
Số lượng và tổ chức của các quỹ TCNN thích hợp với mức độ phát triển kinh tế và trình độ quản lý tài chính của từng 7 quốc gia. Tổ chức các quỹ TCNN đồng thời với quỹ NSNN giúp phân cấp, phân công quản lý kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho tính chủ động và sáng tạo trong quản lý, đồng thời đảm bảo hiệu quả và chặt chẽ trong quản lý tài chính. - Quỹ TCNN được thành lập bởi NSNN cùng với sự đóng góp từ người dân. Do đó, mặc dù không nhất thiết, nhưng việc cung cấp nguồn vốn từ NSNN trở thành một yêu cầu đối với một số quỹ TCNN lớn để đảm bảo tính khả thi của quỹ.
Tùy thuộc vào mục đích của mỗi quỹ TCNN và khả năng huy động nguồn vốn từ cộng đồng, các mức độ hỗ trợ từ NSNN được phân bổ cho mỗi quỹ là khác nhau. - Nguồn hình thành các quỹ TCNN có thể 100% từ NSNN, cũng có thể một phần từ NSNN, một phần từ những nguồn khác hoặc 100% từ nguồn khác. Phân loại các Quỹ tài chính Nhà nước Dựa trên cơ sở mục đích hình thành, có nhiều quỹ TCNN khác nhau để đáp ứng cho nhiều yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau trong từng giai đoạn nhất định, có thể phân loại như sau: (i) Nhóm quỹ dự trữ của Nhà nước: Thực hiện chức năng dự trữ, dự phòng cho những rủi ro, bất trắc, các trường hợp khẩn cấp của kinh tế - xã hội (thiên tai, dịch bệnh, biến động của thị trường…), cơ chế tài chính có độ linh hoạt cao. Các quỹ dự trữ có nguồn tài chính chủ yếu do NSNN cấp, có kế hoạch hoạt động dài hạn và hằng năm, được quản lý theo nguyên tắc tập trung thống nhất để Nhà nước tập trung nguồn lực chủ động đối phó kịp thời với những bất trắc xảy ra.
(ii) Nhóm quỹ thực hiện một số mục tiêu an sinh xã hội: Hầu hết các khoản chi của quỹ đều không có khả năng thu hồi và là các khoản trợ cấp cho các đối tượng được hưởng lợi từ mục tiêu hoạt động của quỹ như: Quỹ Bảo hiểm xã hội, Quỹ Bảo hiểm y tế, Quỹ Xóa đói giảm nghèo… Cơ chế quản lý tài chính của nhóm quỹ này chủ yếu là đảm bảo thu - chi đúng chế độ, chính 8 sách của Nhà nước, đúng mục tiêu của quỹ và đảm bảo cân đối giữa nguồn thu và các khoản chi. (iii) Nhóm quỹ có tính chất hỗ trợ các hoạt động kinh tế - xã hội có đặc trưng là hoạt động có tính chất thu hồi vốn gốc và lãi suất ưu đãi thường chiếm tỷ trọng lớn. Do vậy, việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế là rất quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của quỹ, còn nguồn NSNN chỉ mang tính chất “vốn mồi”. Một số quỹ tiêu biểu trong nhóm này là Quỹ hỗ trợ phát triển, Quỹ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, Quỹ bảo lãnh tín dụng.
(iv) Nhóm Quỹ tiết kiệm, được thiết kế để lưu giữ tài sản cho các thế hệ tương lai, như Quỹ quản lý tài sản chủ quyền. (v) Nhóm Quỹ phát triển, được thành lập để hỗ trợ các chương trình phát triển thường có sự đóng góp của các nhà tài trợ và đôi khi các nguồn lực trong nước như các quỹ xã hội, quỹ môi trường, quỹ ngành. (vi) Nhóm Quỹ đầu tư, được thành lập với các mục tiêu đầu tư cụ thể gồm cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, kim loại quý và các tài sản tài chính. * Phân chia theo thể chế: (i) Quỹ được thành lập để tránh những hạn chế của quy trình ngân sách có thể làm cản trở quá trình giải quyết một số nhiệm vụ của Chính phủ phát sinh ngoài dự toán, do Bộ Tài chính hoặc cơ quan ngân khố quốc gia quản lý (ví dụ Quỹ Bình ổn giá xăng dầu).
(ii) Quỹ được thành lập với sự khác biệt về kiểm soát chi áp dụng cho các đơn vị dự toán, do các Bộ chủ quản hoặc các cơ quan chi tiêu khác quản lý. Các quỹ này có thể được thành lập bằng văn bản quy định với sự khác biệt về kiểm soát chi áp dụng cho các đơn vị (Quỹ Bảo hiểm xã hội, Quỹ Bảo hiểm y tế, Quỹ Bảo vệ môi trường). (iii) Quỹ do chính quyền địa phương quản lý như Quỹ đầu tư phát triển 9 địa phương. Tổng quan quản lý tài chính tại Quỹ tài chính Nhà nước 1.
Một số khái niệm - “Tài chính là sự vận động của vốn tiền tệ, diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội. Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội. Nguồn tài chính là khả năng tài chính mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình. Kết quả của quá trình phân phối các nguồn tài chính là sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định.
- Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu, chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành. Nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ công nhằm đáp ứng cho các nhu cầu gắn liền với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh trong từng giai đoạn cụ thể. - “Quản lý nói chung được quan niệm là một quá trình tổ chức, điều hành mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định. Quản lý tài chính là hoạt động của chủ thể quản lý trong lĩnh vực tài chính nhằm sử dụng nguồn tài sản dưới hình thái tiền, giấy tờ có giá của một đơn vị, tổ chức vừa đảm bảo cho đơn vị, tổ chức hoạt động bình thường, vừa đảm bảo cho nguồn tài chính sử dụng tiết kiệm và sinh lợi nhiều nhất.
- Quản lý tài chính công là hoạt động của các chủ thể quản lý tài chính công thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các 10 công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của tài chính công nhằm đạt được các mục tiêu đã định. - Quản lý tài chính công là quá trình tổ chức công thuộc các cấp chính quyền xây dựng kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, theo dõi và đánh giá việc thực hiện kế hoạch thu, chi, vay nợ nhằm thực hiện các chính sách tài chính công một cách hiệu quả trong từng thời kỳ. - Quản lý tài chính công là quá trình Nhà nước hoạch định, xây dựng chính sách, sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp, tác động đến các hoạt động của tài chính công nhằm thực hiện hiệu quả các chức năng của Nhà nước. Mục tiêu quản lý tài chính tại Quỹ tài chính Nhà nước - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là kết quả của quản lý hiệu quả.
Nó cho phép các đơn vị tự chọn mức biên chế nhân sự, tổ chức và sắp xếp lao động một cách hợp lý, cải thiện chất lượng và năng suất công việc, sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính của mình bằng cách chi trả tiền lương và các khoản chi tiêu khác của đơn vị. - Đảm bảo rằng tiền được sử dụng hiệu quả và đúng mục đích là mục tiêu của quản lý tài chính. Điều này thúc đẩy nhận thức về tiết kiệm, chống lại tham ô và lãng phí, thống nhất các nỗ lực quản lý bằng cách trao quyền cho các đơn vị tự chủ và chịu trách nhiệm về thu nhập, mức chi tiêu, nội dung chi tiêu và việc sử dụng kết quả hoạt động tài chính. - Bằng cách hạn chế lợi ích cá nhân, quản lý tài chính giúp đơn vị biết được mình đang chi tiêu như thế nào, từ đó có thể điều chỉnh để tiết kiệm, hiệu quả hơn, đồng thời giúp đảm bảo tài chính ổn định.
Quản lý tài chính hiệu quả giúp duy trì một lưu lượng tiền mặt ổn định, tránh các tình huống khẩn cấp về tài chính. - Quản lý tài chính tạo động lực bằng cách khen thưởng người có công 11 và sửa chữa sai sót, giúp giảm thất thoát và tăng trách nhiệm cá nhân, ổn định bộ máy hoạt động. - Giúp giảm thiểu bất ổn và tối đa hóa hiệu quả bằng cách tổ chức, điều tiết và phối hợp các hoạt động tài chính của cơ quan hoặc đơn vị. Chu trình quản lý tài chính tại Quỹ tài chính Nhà nước 1.