Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập có thu 1. Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập có thu Đơn vị sự nghiệp là những tổ chức được thanh lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, những hoạt động này nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội, mang tính chất phục vụ là chủ yếu, không vì mục tiêu lợi nhuận. Đơn vị sự nghiệp có thu là loại đơn vị sự nghiệp công lập được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có con đấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo qui định của luật kế toán, nhu cầu tài chính đảm bảo cho đơn vị hoạt động ngoài việc Nhà nước cung cấp còn thu một phần dưới dạng phí, lệ phí và các khoản đóng góp của người tiêu dùng để bù đắp một phần hay toàn bộ chỉ phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức và bổ sung tái tạo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị.
Những hoạt động này thường là những hoạt động cung cấp các dịch vụ có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và đời sống mà người tiêu dùng có thể thấy ngay hiệu quả sử dụng dịch vụ mang lại và nếu không có cũng sẽ không đạt được lợi ích mong muốn. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập có thu - Đơn vị SNCT là một tô chức hoạt động chủ yếu mang tính chất phục vụ xã hội, không vì mục đích kinh doanh. - Hàng hoá và dịch vụ của các đơn vị SNCT là sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tỉnh thần xã hội. - Hoạt động của các đơn vị SNCT luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.
- Các đơn vị SNCT có nguồn thu hợp pháp từ hoạt động sự nghiệp của đơn vị. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập có thu Dựa vào các tiêu thức khác nhau đơn vị sự nghiệp có thu cũng được phân thành nhiều loại khác nhau [5], [7]. + Căn cứ vào vị trí, đơn vị sự nghiệp gầm: - Đơn vị SNCT ở trung ương như Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, trường học do các Bộ ngành, cơ quan trung ương quản lý. - Đơn vị SNCT ở địa phương như Đài phát thanh truyền hình ở các địa phương, các bệnh viện, trường học do địa phương quản lý.
+ Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể các đơn vị SNCT bao gôm[8]: - Các đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. - Các đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực y tế. - Các đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực kinh tế. - Các đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ.
- Các đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực văn hoá - thông tin truyền thông. - Các đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình - Các đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao. - Các đơn vị sự SNCT hoạt động trong lĩnh vực xã hội. + Căn cứ vào mức độ tự chủ nguôn kinh phí cho hoạt động thường xuyên các don vị sự nghiệp có thu bao gom [T].
[§]: - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chỉ phí hoạt động thường xuyên: đây là các đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chỉ đủ trang trải một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại vẫn phải phụ thuộc vào kinh phí do NSNN cấp. Mức tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên luôn nhỏ hơn 100% và được xác định theo công thức sau: Mức tự bảo đảm Tổng số nguồn thu sự nghiệp chỉ phí hoạtđộng = —————————* 100% thường xuyên (%) Tông sô chỉ hoạt động thường xuyên Tổng số nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên tinh theo dy toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ỗn định. - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên: Đây là các đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đảm bảo toàn bộ chỉ phí hoạt động thường xuyên, không phụ thuộc vào NSNN và Nhà nước không phải cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị - Đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động gồm: Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chỉ phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, từ 10% trở xuống hoặc đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu. Các nội dung chính về quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập có thu 1.
Khái niệm cơ chế quản lý tài chính Thuật ngữ “cơ chế quản lý” được đùng rộng rãi trong lĩnh vực quán lý từ khoảng cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi Việt Nam bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là cách thức tổ chức và điều khiển hoạt động của một đơn vị hoặc đối tượng nào đó. Từ đó, thuật ngữ “cơ chế quản lý” được áp dụng phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội ở nước ta, kể cả lĩnh vực tài chính. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một khái niệm chuẩn tắc về cơ chế quản lý tài chính. Có nhiều cách tiếp cận khái niệm “cơ chế quản lý tài chính”.
Trong đó cách tiếp cận đi từ một khái niệm bao trùm là “ cơ chế quản lý kinh tế” sẽ giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn khái niệm “cơ chế quản lý tài chính”, vì quản lý tài chính là một bộ phận của quản lý kinh tế. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa cơ chế kinh tế như sau: “Cơ chế kinh tế là phương thức vận động của nền sản xuất xã hội được tổ chức và quản lý theo những quan hệ vốn có mà được Nhà nước quy định; nó phải phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế, với đặc điểm của chế độ xã hội theo từng giai đoạn phát triển của xã hội”. Theo giáo trình “Quản lý nhà nước về kinh tế” của trường Đại học Kinh tế Quốc đân, cơ chế quản lý kinh tế được định nghĩa như sau: “Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức điều hành có kế hoạch nền kinh tế, dựa trên cơ sở các đòi hỏi của các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, bao gồm tổng thể các phương pháp, các hình thức, các thủ thuật để thực hiện yêu cầu của các quy luật khách quan ấy”. Từ đó có thể hiểu: Cơ chế quản lý tài chính là cách thức tô chức và điều hành hoạt động tài chính, phù hợp với các quy luật khách quan, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Cơ chế quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có thu là sự tổng hợp các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để tổ chức và điều hành các hoạt động tài chính của đơn vị đó, trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong phát triển các hoạt động sự nghiệp. Mục tiêu quản lý tài chính ở đơn vị sự nghiép[8], [9] Việc quản lý tài chính ĐVSN nhằm đạt tới các mục tiêu: - Làm cho ĐVSN hoạt động có hiệu qua, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội. - Tạo động lực khuyến khích các ĐVSN tích cực, chủ động tổ chức hoạt động hợp lý, xác định số biên chế cần có, sắp xếp, tổ chức và phân công lao động khoa học, nâng cao chất lượng công việc nhằm sử đụng kinh phí tiết kiệm. - Nêu cao ý thức trách nhiệm, tăng cường đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong sử dụng tài chính.
- Tạo điều kiện để người lao động phát huy khả năng, nâng cao chất lượng công tác và tăng thu nhập vật chất cho cá nhân và tập thẻ. Nguyên tắc quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp [10], [11] - Nguyên tắc hiệu quả: Là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản lý tài chính nói chung và trong quản lý các ĐVSN nói riêng. Hiệu quả trong quản lý tài chính thê hiện ở sự so sánh giữa kết quá đạt được trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội với chỉ phí bỏ ra. Tuân thủ nguyên tắc này là khi tiến hành quản lý tài chính các ĐVSN, Nhà nước cần quan tâm cả hiệu quá về xã hội và hiệu quá kinh tế.
Mặc đù rất khó định lượng hiệu quả về xã hội, song những lợi ích đem lại về xã hội luôn được đề cập, cân nhắc thận trọng trong quá trình quản lý tài chính công. Nhà nước phải cân đối giữa việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu trên cơ sở lợi ích của toàn thể cộng đồng, những mục tiêu chính trị quan trọng cần phải đạt được trong từng giai đoạn nhất định với định mức chỉ hợp lý. Hiệu quả kinh tế là tiêu thức quan trọng đề các cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền cân nhắc khi xem xét các phương án, dự án hoạt động sự nghiệp khác nhau. Hiệu quả xã hội và hiệu quá kinh tế là hai nội dung quan trọng phải được xem xét đồng thời khi hình thành một quyết định hay một chính sách chỉ tiêu ngân sách liên quan đến hoạt động sự nghiệp.
- Nguyên tắc thống nhất: Là thông nhất quản lý tài chính ĐVSN bằng những văn bán luật pháp thống nhất trong cả nước. Thống nhất quan lý chính là việc tuân theo một khuôn khổ chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán, xử lý những vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện quản lý thu, chi tai chính ở các ĐVSN. Thực hiện nguyên tắc quản lý này sẽ đảm bảo tính công bằng, bình đẳng trong đối xử với các ĐVSN khác nhau, hạn chế những tiêu cực và rủi ro trong hoạt động tài chính, nhất là những rủi ro có tính chất chủ quan khi quyết định các khoản thu, chỉ. - Nguyên tắc tập trung, dân chủ: Là nguyên tắc quan trọng trong quản lý tài chính đối với các ĐVSN thụ hưởng ngân sách nhà nước.
Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý tài chính ĐVSN đảm bảo cho các nguồn lực của xã hội được sử dụng hợp lý cá ở quy mô nền kinh tế quốc dan lẫn quy mô ĐVSN.