Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính trong các câu lạc bộ thể thao Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính trong câu lạc bộ bóng chuyền nữ VietinBank Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính trong câu lạc bộ bóng chuyền nữ VietinBank 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÂU LẠC BỘ THỂ THAO 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý tài chính tại câu lạc bộ thể thao Nghiên cứu của Barbu, M. (2011) đã nhận thấy rằng các câu lạc bộ thể thao do nhà nước tài trợ đang phải đối mặt với thời kỳ khó khăn với khủng hoảng do nguồn lực của họ giảm đi đáng kể.
Ngoài ra, các nguồn lực tư nhân đang trở nên khan hiếm. Trong điều kiện này, sự tồn tại của các câu lạc bộ là một thách thức lớn. Động lực của các vận động viên và những thứ khác phải được duy trì và các nhà quản lý phải tìm nguồn lực để tài trợ cho việc tham gia các cuộc thi thể thao. Một môn thể thao quốc gia, bao gồm tất cả các cơ cấu thể thao, không thể thành công nếu không có sự hỗ trợ tài chính đáng kể.
Nghiên cứu này đã trình bày chi tiết phân tích tại Clubul Sportiv Urban Craiova và nhận thấy rằng chìa khóa để đạt được hiệu quả trong thời điểm khó khăn là tăng cường hợp tác, tối ưu hóa chi tiêu và tạo mối quan hệ đối tác với các tổ chức thể thao có uy tín. (2011) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn xã hội của các CLB thể thao cộng đồng và lợi ích công cộng. Tác giả đã chứng minh đuợc sự cần thiết của vi c thực hi n mo hình hoạt đọng bằng nguồn vốn xã họi của các cau lạc bọ thể thao cùng với vi c tổ chức các hoạt đọng, sự ki n có hi u quả đến vi c phát triển thể chất cho nguời tham gia. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền Thanh (2015) đã tiến hành một nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng ở thành phố Hồ Chí Minh.
Hiệu quả kinh doanh được đánh giá thông thu tìm hiểu cơ cấu nguồn lao động thể dục thể thao, nguồn đầu tư tài chính, nguồn doanh thu tài chính, mức lương bình quân… Thông qua phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, nghiên cứu đã thực hiện đánh giá chất lượng 4 dịch vụ thể dục thể thao tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao. Nghiên cứu đã đề xuất được một số giải pháp kinh doanh dịch vụ thể dục thể thao bao gồm: phát triển nguồn nhân lực thể dục thể thao, nghiên cứu nhu cầu thể dục thể thao, phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị thể dục thể thao, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ và hoàn thiện chính sách giá hợp lý. Nghiên cứu của Lê Hùng Sơn (2015) cho rằng quản lý tài chính chỉ đơn thuần là quản lý thu - chi. Tuy nhiên, theo học thuyết quản lý tài chính của nhà nghiên cứu Ezra Solomon (Học thuyết mà tác giả sử dụng để phân tích những lý thuyết cơ bản liên quan trong luận án) cho thấy, việc quản lý tài chính không chỉ quản lý thu - chi mà bao gồm quản lý cho cả giai đoạn lập dự toán, quyết toán và phân tích kế hoạch triển khai, quản lý những mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội và trong mối quan hệ về tiền tệ.
Vì vậy, mọi cách tiếp cận để đưa ra giải pháp quản lý tài chính của các tác giả của một số công trình nghiên cứu trước đây đều chỉ để cập đến vấn đề quản lý những gì mình đã có (giới hạn ở phần thu và chi). Một vấn đề nữa cũng khá phổ biến ở các đề tài đã công bố trước đây, khi đưa ra một giải pháp hầu như các tác giả không cho người đọc biết cách phải làm như thế nào? Ví dụ, tác giả đưa ra “giải pháp cần loại bỏ các chi phí mà cấp trên chưa đồng ý chi” (trong phần quản lý các khoản chi), loại bỏ như thế nào, tác giả lại không đề cập. Hay theo một số tác giả khác cho rằng để quản lý tốt tài chính cần phân chia quản lý tài chính thành quản lý tài sản, quản lý nguồn vốn. Sau đó, phân chia nguồn vốn của doanh nghiệp theo hình thức sử dụng gồm vốn lưu động, vốn cố định.
Ở đây, tác giả đã nhầm lẫn quản lý vốn và quản lý tài sản. Ở nhiều nước phương Tây, các câu lạc bộ thể thao cộng đồng địa phương là nhà cung cấp các chương trình giải trí, thể thao và xã hội quan trọng. Các câu lạc bộ thể thao này là các tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động trong môi trường ngày càng thách thức. (2015) đã nghiên cứu, xem xét môi trường địa phương, cụ thể là tình hình kinh tế và tài chính của cộng đồng ảnh hưởng như thế nào đến nguồn lực của các câu lạc bộ thể thao như con người, cơ sở hạ tầng và nguồn tài chính.
Đánh giá thực nghiệm được thực hiện bằng cách sử dụng dữ liệu từ 5 một cuộc khảo sát toàn quốc về các câu lạc bộ thể thao phi lợi nhuận ở Đức (cấp tổ chức; n = 19.345), được kết hợp với dữ liệu thứ cấp về đặc điểm cộng đồng (cấp cộng đồng; n = 3153). Với cấu trúc dữ liệu phân cấp, các phân tích đa cấp được áp dụng. Kết quả cho thấy các vấn đề về tình nguyện ít xảy ra hơn ở các câu lạc bộ ở cộng đồng có tỷ lệ thất nghiệp cao. Các vấn đề về cơ sở vật chất và tài chính còn lớn hơn ở các cộng đồng lớn.
Các câu lạc bộ thể thao nằm trong các cộng đồng có khả năng hòa vốn cũng có nhiều khả năng hòa vốn hơn. Các phát hiện cho thấy các vấn đề về nguồn lực không nhất thiết là do quản lý câu lạc bộ kém, vì các yếu tố cấp cao hơn (cộng đồng) cũng ảnh hưởng đáng kể đến tình hình nguồn lực của các câu lạc bộ thể thao. Nghiên cứu của Phạm Chí Thanh (2017) nghiên cứu, tiếp cận tài chính đối với khu vực sự nghiệp công với tư cách là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước với đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) trong sự hình thành, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ. Qua đó làm rõ bản chất, chức năng tài chính của ĐVSNCL trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Tác giả đã phân tích mối quan hệ tài chính giữa Nhà nước giao nhiệm vụ và kinh phí thực hiện nhiệm vụ với ĐVSNCL tổ chức hoạt động cung cấp dịch vụ, tức là Nhà nước mua các dịch vụ của đơn vị này. Do vậy, đơn vị được quyền quyết định trong quản lý, sử dụng kinh phí và chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp cần đổi mới theo hướng xoá bỏ bao cấp, thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính và hoạt động của ĐVSNCL. Đổi mới chính sách tài chính đối với cả khu vực sự nghiệp công lập được luận giải là một quá trình liên tục, hướng đến mục tiêu quản lý NSNN đối với ĐVSNCL theo ết quả hoạt động. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp, trong đó có những giải pháp có tính đột phá: chuyển chính sách phí, lệ phí hiện nay sang chính sách quản lý giá dịch vụ, theo hướng ĐVSN thực hiện hạch toán đầy đủ chi phí hoạt động bao gồm cả chi phí khấu hao; chuyển cơ chế chi NSNN cho ĐVSNCL mang tính bao cấp hiện nay sang quản lý chi theo kết quả hoạt động, có các chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với các đối tượng chính sách.
Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung nhiều phân tích định tính, những 6 đánh giá tác động của chính sách tài chính đối với ĐVSNCL chưa được lượng hoá đầy đủ. Mặt khác, giải pháp đổi mới chính sách tài chính chung cho khu vực sự nghiệp chưa được cụ thể đối với từng lĩnh vực như: y tế, giáo dục đào tạo, thể dục thể thao. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Việt (2017) đã tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý tài chính tại doanh nghiệp và chỉ ra được khoảng trống về mặt khoa học, xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước. Luận án đã tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Tập đoàn Vingroup và chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong quản lý tài chính tại Tập đoàn Vingroup đó là: công tác lập kế hoạch còn sơ sài, chưa phát huy tinh thần dân chủ; công tác tổ chức thực hiện kế hoạch chưa nghiêm, còn sảy ra nhiều sai sót trong quản lý thu – chi; công tác thanh tra, giám sát còn mang tính hình thức.
Căn cứ vào những tồn tại, hạn chế, luận án đã đề xuất 3 nhóm giải pháp để hoàn thiện quản lý tài chính tại Tập đoàn Vingroup đó là: hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch, hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện kế hoạch, hoàn thiện công tác thanh tra, giám sát. Nghiên cứu của Trần Trí Trinh (2018) đã làm rõ các vấn đề cơ bản về cải cách quản lý tài chính công trong mối quan hệ với cải cách hành chính nhà nước, đặc biệt là các nguyên tắc, nội dung, yêu cầu của quản lý tài chính công, cũng như mối quan hệ, vai trò và tác động của cải cách quản lý tài chính công đối với cải cách hành chính nhà nước. Tác giả cũng đã trình bày, phân tích và đánh giá tương đối khách quan và xác đáng tình hình thực hiện cải cách quản lý tài chính công tại nước ta trong những năm gần đây. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đã chỉ rõ các thành tựu cũng như một số tồn tại, hạn chế và phân tích nguyên nhân của các hạn chế đó.
Các vấn đề quan trọng đặt ra trên cơ sở thực trạng cải cách quản lý tài chính công cần giải quyết trong thời gian tới cũng đã được tác giả đưa ra như một số nội dung liên quan tới chính sách tiền lương, cơ chế tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp, việc thực hiện xã hội hoá dịch vụ công và phân cấp quản lý tài chính.