phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trƣờng đại học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trƣờng Đại học Hải Phòng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trƣờng Đại học Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN NGOẠI TRÚ Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Công tác học sinh, sinh viên nói chung và công tác quản lý sinh viên ngoại trú nói riêng là nhiệm vụ quan trọng của mỗi cơ sở giáo dục và đào tạo. Để nâng cao chất lƣợng công tác HSSV, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản về công tác HSSV, trong đó có các văn bản liên quan đến công tác HSSV ngoại trú, nhƣ: Quyết định số 43/2002/QĐ-BGDĐT, ngày 22/10/2002 về việc ban hành Quy chế công tác HSSV ngoại trú trong các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; Thông tƣ số 27/2009/TT- BGDĐT, ngày 19/10/2009 về Quy chế ngoại trú của HSSV các trƣờng đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy. Các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ sở pháp lý để nhà trƣờng phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc quản lý và hỗ trợ cho HSSV ngoại trú có môi trƣờng sinh hoạt lành mạnh, học tập và rèn luyện tốt, đồng thời tạo điều kiện cho HSSV tham gia và phát huy đƣợc năng lực của mình trong việc xây dựng đời sống văn hóa, nền nếp, kỷ cƣơng, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội ở nơi cƣ trú. Trong thời gian qua đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề quản lý sinh viên ngoại trú, nhƣ: “Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Trần Thị Thuý Ngân - Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục Trƣờng Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội - 2008; “Những biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trƣờng Đại học Hồng Đức trên địa bàn thành phố Thanh Hóa” của tác giả Hà Ngọc Hòa - Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Khoa Sƣ phạm- 2005, “Một số biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của Trƣờng Cao đẳng Kỹ thuật Y tế I - Bộ Y tế” của tác giả Nguyễn Văn Khởi - Luận văn thạc sỹ - Đại học 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sƣ phạm Hà Nội - 2005, “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý sinh viên ngoại trú của Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Nguyễn Quốc Tú - Luận văn thạc sĩ Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2005… Nghiên cứu của các tác giả đã đƣợc triển khai áp dụng hiệu quả vào thực tiễn và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng trƣờng.
Tuy nhiên các đề tài chủ yếu nghiên cứu vấn đề cụ thể về quản lý sinh viên ngoại trú, chƣa có đề tài nghiên cứu về quản lý công tác sinh viên ngoại trú. Thời điểm các tác giả nghiên cứu cách đây cũng khá xa (nghiên cứu gần đây nhất đã 5 năm), trong khi đó hiện nay kinh tế - xã hội đất nƣớc ta đã có sự thay đổi nhanh chóng, giáo dục và đào tạo đang có sự chuyển biến mạnh mẽ. Thành phố Hải Phòng có nhiều trƣờng đại học, cao đẳng nhƣng chƣa có tác giả nào nghiên cứu về đề tài quản lý công tác sinh viên ngoại trú. Vì vậy, vấn đề “Quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay” cần đƣợc nghiên cứu.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, chức năng của quản lý * Khái niệm quản lý Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con ngƣời muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng đều dẫn đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng” [16, tr. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhƣng chƣa có một định nghĩa thống nhất.
Có ngƣời cho quản lý là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của ngƣời khác. Cũng có ngƣời cho quản lý là hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân và nhằm đạt đƣợc mục đích của nhóm. Các tác giả lại quan niệm một cách đơn giản hơn, coi quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó. Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tƣ cách là một hành động, có thể định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [43, tr.
Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau cũng đã đƣa ra những khái niệm quản lý: Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [17, tr. Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn, quản lý đƣợc hiểu nhƣ sau: “Quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trƣờng” [38, tr. Một xu hƣớng nghiên cứu phƣơng pháp luận quản lý ở Việt Nam trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lƣợng mới” [9, tr. Thuật ngữ “quản lý” thƣờng đƣợc hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng nhƣ cách tiếp cận của ngƣời nghiên cứu.
Quản lý là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dƣới góc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Là khoa học vì nó là những tri thức đƣợc hệ thống hoá và là đối tƣợng nghiên cứu khách quan đặc biệt.
Quản lý là khoa học nghiên cứu, lý giải các mối quan hệ, đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý. Là nghệ thuật bởi nó là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt trong việc sử dụng những kinh nghiệm đã quan sát đƣợc, những tri thức đã đƣợc đúc kết nhằm tác động một cách có hiệu quả nhất tới khách thể quản lý. Nhƣ vậy, quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, mỗi một lĩnh vực có một hệ thống lý luận riêng: các nhà kinh tế thiên về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về quản lý nhà nƣớc, các nhà điều khiển học thiên về quan điểm hệ thống. Cho nên khi đƣa ra các định nghĩa về quản lý, các tác giả thƣờng gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình.
Nhƣng bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể nhỏ nhƣ tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: Ngƣời quản lý và đối tƣợng đƣợc quản lý. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Vì vậy, những nhà quản lý phải luôn luôn mềm dẻo, linh hoạt để vận dụng những nguyên tắc quản lý khác nhau trong từng lĩnh vực và tình huống cụ thể cho phù hợp nhằm đạt đƣợc hiệu quả quản lý cao nhất. * Các chức năng quản lý Quản lý là một quá trình mà chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý bằng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể nhằm đạt đƣợc mục đích của tổ chức.
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã xác đinh ̣ chức năng quản lý bao gồm 4 chức năng: Kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chức năng kế hoạch hóa: kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tƣơng lai của tổ chức và các con đƣờng, biện pháp, cách thức để đạt đƣợc mục tiêu, mục đích đó. Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch là: (a) xác định, hình thành mục tiêu (phƣơng hƣớng) đối với tổ chức, (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt đƣợc các mục tiêu này, (c) quyết định xem những hành động nào là cần thiết để đạt đƣợc các mục tiêu đó. - Chức năng tổ chức: Khi ngƣời quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tƣởng khá trừu tƣợng ấy thành những hành động thực tiễn.
Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu tổng thể của tổ chức. Ngƣời quản lý phải điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức.