phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày thành ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của đề tài Chƣơng 2: Thực trạng sinh viên ngoại trú và công tác quản lý sinh viên ngoại trú của trƣờng Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trƣờng Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.Tổng quan nghiên cứu Giáo dục là một chức năng của xã hội loài ngƣời, đƣợc thực hiện một cách tự giác, vƣợt qua ngƣỡng “tập tính” của các giống loài động vật bậc thấp khác. Cũng nhƣ mọi hoạt động khác của xã hội loài ngƣời, sự ra đời của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo dục và từ đó cũng xuất hiện khoa học về quản lý giáo dục. Đối với Việt Nam, tuy khoa học quản lý giáo dục còn là một ngành khoa học mới mẻ, nhƣng đƣợc quan tâm đặc biệt, nên phát triển nhanh cả về lý luận và thực tiễn. Một trong những đối tƣợng quan trọng trong quản lý giáo dục là ngƣời học.
Ngƣời học vừa là đối tƣợng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Để nâng cao chất lƣợng đào tạo, ngoài việc xem xét các yếu tố ngƣời dạy, nội dung, chƣơng trình, giáo trình, cơ sở vật chất… thì không thể không nghiên cứu trực tiếp là đối tƣợng ngƣời học. Xung quanh vấn đề ngƣời học có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu trong đó có vấn đề quản lý ngƣời học. Trƣớc đây, do phần lớn SV học tại các trƣờng Đại học, Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đều đƣợc bố trí nơi ở trong KTX nên những nghiên cứu về quản lý SV ngoại trú hầu nhƣ không đƣợc đề cập; có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu liên quan đến việc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các bậc học khác nhau nhƣ: Nguyễn Hữu Hợp (chủ biên), Nguyễn Dục Quang - “Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học” (giáo trình dành cho hệ đại học tại chức đào tạo giáo viên tiểu học) - Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội 1995; Hà Thế Ngữ (chủ biên) và nhiều tác giả - “Giáo dục đạo đức và giáo dục công dân qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” – Nhà xuất bản Giáo dục 1996; Huỳnh Lâm Anh Chƣơng - “Nghiên cứu thực trạng một số hoạt động ngoài giờ lên lớp của SV nội trú trường Đại học Sư 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sỹ Tâm lý học, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 1999 … Những năm gần đây, ở hầu hết các trƣờng Đại học, Cao đẳng, Trung học Chuyên nghiệp do cơ sở vật chất hạn hẹp, KTX của trƣờng chỉ đủ sức chứa khoảng 20% tổng số HSSV, còn 80% HSSV phải ở ngoại trú tại gia đình, tại các nhà trọ.
Môi trƣờng sống phức tạp đã làm cho tình hình SV ngoại trú có nhiều vấn đề nổi cộm. Năm 2002 Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành Quy chế Công tác HSSV ngoại trú trong các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Đây thực sự là một bƣớc đột phá trong việc tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý SV ngoại trú và cũng là cái mốc đƣa vấn đề quản lý SV ngoại trú thành một vấn đề cần phải nghiên cứu. Xung quanh vấn đề này đã có một vài tác giả chọn làm nội dung nghiên cứu nhƣ: “Các giải pháp quản lý lối sống SV ngoại trú các trường Đại học, cao đẳng tại Hà Nội”; Đặng Nam Thắng, Luận văn Thạc sỹ Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2006; “Một số biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả rèn luyện của SV trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam”, Nguyễn Thị Kim Thoa, Luận văn thạc sỹ Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2006… Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới dừng lại ở một khía cạnh nhỏ của công tác quản lý SV ngoại trú.
Vài năm lại đây, đã xuất hiện một số tác giả chọn vấn đề quản lý SV ngoại trú làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình nhƣ: “Những biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường Đại học Hồng Đức trên địa bàn thành phố Thanh Hóa” của tác giả Hà Ngọc Hòa - Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục Khoa Sƣ phạm - ĐHQGHN, 2005, “Một số biện pháp quản lý SV ngoại trú của trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế I - Bộ Y tế” của tác giả Nguyễn Văn Khởi - Luận văn thạc sỹ - Đại học Sƣ phạm Hà Nội - 2005, “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý SV ngoại trú của Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Nguyễn Quốc Tú - Luận văn thạc sỹ trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2005… Những nghiên cứu này đã tìm hiểu thực trạng công tác quản lý SV ngoại trú của trƣờng và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý. Tuy nhiên, đó là những nghiên cứu mang tính cụ thể áp dụng trong những môi trƣờng cụ thể, của từng trƣờng trong khi đó công tác quản lý SV ngoại trú lại phụ thuộc vào đặc thù của từng nhà trƣờng. Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN cũng gặp phải vấn đề nan giải trong công tác quản lý SV ngoại trú nhƣ các trƣờng khác nói chung nhƣng xuất phát từ đặc điểm riêng của mỗi trƣờng nên không thể áp dụng biện pháp quản lý của trƣờng này vào trƣờng khác. Chính vì vậy, việc nghiên cứu cụ thể thực trạng SV ngoại trú và công tác quản lý SV ngoại trú của nhà trƣờng là cần thiết, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp quản lý.
Do vậy, vấn đề “Biện pháp quản lý SV ngoại trú của Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN” là vấn đề cần đƣợc nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Khái niệm quản lý Lịch sử đã chứng minh rằng, để tồn tại và phát triển, ngay từ khi loài ngƣời xuất hiện trên trái đất, con ngƣời đã liên kết với nhau thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt đƣợc với tƣ cách là những cá nhân riêng lẻ, nhằm chống lại sự tiêu diệt của thú dữ và thiên nhiên, đồng thời cũng xuất hiện một loạt các mối quan hệ: quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với thiên nhiên, giữa con ngƣời với xã hội và cả quan hệ giữa con ngƣời với chính bản thân mình. Trong quá trình đó đã xuất hiện một số ngƣời có năng lực chi phối đƣợc ngƣời khác, cũng nhƣ điều khiển mọi hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung.
Những ngƣời đó đã đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều đó đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý. Nhƣ vậy, hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm nhƣ một yếu tố cần 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hƣớng tới những mục tiêu chung và nó tồn tại, phát triển đến ngày nay. Nói đến hoạt động quản lý, ngƣời ta thƣờng nhắc đến ý tƣởng sâu sắc của C.Mác: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà sự hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng" [9, tr.Koontz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt đƣợc mục đích của tổ chức.
Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trƣờng mà trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [17, tr. Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau cũng đã đƣa ra những khái niệm quản lý: Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [11, tr. Một xu hƣớng nghiên cứu phƣơng pháp luận quản lý ở Việt Nam trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí. cho rằng: “hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lƣợng mới” [2, tr.
Quản lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” và quá trình “lý”. “Quản” là coi sóc giữ gìn, duy trì sự ổn định của hệ. “Lý” là sửa sang sắp xếp, đổi mới tạo ra sự phát triển của hệ. Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu hệ sẽ suy thoái.
Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu sẽ dẫn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến rối ren. Quản lý nhằm ngăn chặn mọi sự suy thoái và rối ren. Nếu ngƣời đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm tới việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đạt nền tảng của sự ổn định, thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong “quản” phải có “lý” trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động.
Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tƣơng tác giữa các nhân tố bên trong với các nhân tố bên ngoài. Qua các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nƣớc, tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể kết luận: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động. Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.