Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người, được thực hiện một cách tự giác, vượt qua ngưỡng “tập tính” của các giống loài động vật bậc thấp khác. Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đời của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo dục và từ đó cũng xuất hiện khoa học về quản lý giáo dục. Đối với Việt Nam, tuy khoa học quản lý giáo dục còn là một ngành khoa học mới mẻ, nhưng được quan tâm đặc biệt, nên phát triển nhanh cả về lý luận và thực tiễn.
Một trong những đối tượng quan trọng trong quản lý giáo dục là người học. Người học vừa là đối tượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào tạo, ngoài việc xem xét các yếu tố người dạy, nội dung, chương trình, giáo trình, cơ sở vật chất… thì không thể không nghiên cứu trực tiếp là đối tượng người học. Xung quanh vấn đề người học có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu trong đó có vấn đề quản lý người học.1 Thế giới Ngay từ thời cổ đại, vấn đề quản lý và quản lý người học đã được nhiều nhà triết học, nhà giáo dục phương Tây và phương Đông nghiên cứu.
Theo Xôcrat (469-415 TCN) nêu lên quan điểm giáo dục là phải giúp con người tìm thấy, tự khẳng định chính bản thân mình, Để nâng cao chất lượng giáo dục thì cần phải có phương pháp phù hợp giúp thế hệ trẻ từng bước khẳng định, tự phát triển tri thức phù hợp với chân lý. Ngay từ thế kỷ thứ V - VI TCN, Khổng Tử đã cho rằng giáo dục - đào tạo có thể hướng con người tới chỗ hoàn thiện. Ông đã xem giáo dục là nền tảng của đời sống đạo đức, kinh tế, chính trị, xã hội. Khổng Tử dựa trên cơ sở học thuyết về đức “trung hòa”, “trung dung” là đạo của trời đất và học thuyết về bản tính “nhân nghĩa” của đạo làm người, Khổng Tử chủ trương trị nước 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng phương pháp “đức trị” và đề cao việc “giáo hóa con người” làm phương thế để ổn định trật tự xã hội và tiến tới xây dựng một xã hội lý tưởng, thái bình thịnh trị.
Khổng Tử cho rằng nhân cách con người được hình thành không chỉ thuần túy bởi điều kiện môi trường sống mà còn do điều kiện giáo dục quyết định, với mỗi người các đức tính như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng cần phải được học tập, rèn luyện thì mới phát triển đúng hướng và mới có thể vận dụng vào trong cuộc sống. Đối với một dân tộc, theo ông giáo dục là nhân tố không thể thiếu được, một dân tộc dốt không thể mạnh được. Khổng Tử đã nhận ra rằng: “Giáo dục, phát triển trí đức là chìa khóa để phát triển kinh tế, đồng thời phát triển kinh tế là cơ sở cho phát triển giáo dục và dân trí”(2). Và Khổng Tử cũng cho rằng giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi lẽ công bằng, đến tôn ti trật tự, đến thái độ của mỗi người đối với cuộc sống cộng đồng.
Ông thấy được giáo dục không chỉ có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân mà còn quyết định đến vận mệnh và tương lai của cả một dân tộc. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khoa học giáo dục đã có sự biến đổi mới về lượng và chất. những vấn đề chủ yếu trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã thực sự định hướng cho hoạt động giáo dục, đó là các quy luận về sự “hình thành cá nhân con người”, về “tính quy luật về kinh tế-xã hội đối với giáo dục”. Các quy luật đó đã đặt ra một yêu cầu mới đối với việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho giáo dục.
Việt Nam Một số tác giả chọn vấn đề quản lý SV nội trú, ngoại trú làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình như tác giả Huỳnh Lâm Anh Chương nghiên cứu về “Nghiên cứu thực trạng một số hoạt động ngoài giờ lên lớp của SV nội trú trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh” [9]; “Một số biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả rèn luyện của SV trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam” của tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa [22]; hay tác giả Trần Thị Thúy Ngân với đề tài “Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội” [19]…Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới dừng lại ở một khía cạnh nhỏ trong công tác QLSV như công tác quản lý SV ngoại trú, nội trú hay quản lý lối sống SV và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý. Ngoài ra, cũng có tác giả nghiên cứu đề tài về quản lý CTSV nói chung như tác giả Trần Thị Kim Oanh với đề tài “Biện pháp quản lý công tác sinh viên của trường Cao đẳng Công nghệ Thông tin Hữu nghị Việt Hàn trong giai đoạn hiện nay”[20]; hay tác giả Phạm Huyền Trang nghiên cứu về “Biện pháp QLSV của phòng công tác học sinh, SV tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội” [24]; tác giả Cao Xuân Tịnh với “Biện pháp quản lý công tác sinh viên tại trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng” [23]; hay ”Đổi mới quản lý công tác sinh viên ở trường Đại học Kinh tế- Đại học Quốc Gia Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang tín chỉ” của tác giả Nguyễn Minh Đức [13]… Tuy nhiên, đó là những nghiên cứu mang tính cụ thể áp dụng trong những môi trường cụ thể của từng trường trong khi đó công tác quản lý SV lại phụ thuộc vào đặc thù của từng nhà trường. Năm 2007, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có quyết định số 42/2007/BGD&ĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 về việc ban hành “quy chế học sinh, SV các trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy” [3] đây thực sự là một kim chỉ nam cho các trường trong quản lý CTSV nói chung. Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội là một trường đại học công lập quốc tế mới, áp dụng phương thức quản lý riêng biệt.
SV Việt Nam chiếm 90% và SV quốc tế chiếm 10% tổng số SV của trường. với đặc điểm là một trường quốc tế, nên vấn đề CTSV phải được chú trọng đặc biệt. Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội cũng gặp khó khăn không nhỏ trong vấn đề quản lý CTSV một vấn đề rất nan giải giống như các trường khác nói chung nhưng xuất phát từ đặc điểm riêng của trường nên không thể áp dụng biện pháp quản lý của trường khác. Vì vậy, việc nghiên cứu cụ thể thực trạng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CTSV của nhà trường là hết sức cần thiết, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp quản lý.
Do vậy, vấn đề “Quản lý công tác sinh viên của Trường Đại học Khoa hoc và Công nghệ Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” là vấn đề cần được nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý và chức năng của quản lý 1. Quản lý Quản lý là hoạt động nảy sinh từ như cầu cuộc sống của con người từ khi có sự hợp tác và phân công lao động.
Hoạt động của con người càng phong phú, đa dạng, trình độ càng cao thì đòi hỏi trình độ quản lý, điều hành càng cao hơn. Theo Các Mác thì quản lý là một hoạt động tất yếu trong bất cứ một hình thức lao động tập thể nào nhằm điều hành, phối hợp những hoạt động của cá nhân nhăm đạt được mục tiêu chung của tập thể, của tổ chức. Ông ví hoạt động của các tổ chức, tập thể cần phải có hoạt động quản lý như một dàn nhạc cần phải có người chỉ huy. Xuất phát từ các góc độ khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã đưa ra những khái niệm quản lý: Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới” [2, tr.
Quản lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” và quá trình “lý”. “Quản” là coi sóc giữ gìn, duy trì sự ổn định của hệ. “Lý” là sửa sang sắp xếp, đổi mới tạo ra sự phát triển của hệ. Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu hệ sẽ suy thoái.
Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu sẽ dẫn đến rối ren. Quản lý nhằm ngăn chặn mọi sự suy thoái và rối ren. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm tới việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đạt nền tảng của sự 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ổn định, thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong “quản” phải có “lý” trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động.
Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong với các nhân tố bên ngoài. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều hành, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [15, tr. Có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau từ các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nước, tuy vậy, ta có thể kết luận: Quản lý là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm khai thác và tận dụng tối ưu các nguồn lực và phối hợp mọi nỗ lực của cá nhân để đưa tổ chức đến mục tiêu đã xây dựng. Nói cách khác, quản lý được hiểu là một hệ thống gồm 3 thành tố cơ bản: Chủ thể quản lý, Đối tượng quản lý và Mục tiêu quản lý.
Các thành tố quả quản lý có tác động qua lại lẫn nhau. Ngày nay, quản lý đã trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội.