CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU HỮU CƠ 1. Tổng quan về nông nghiệp hữu cơ. Khái niệm nông nghiệp hữu cơ. Theo tổ chức Nông nghiệp Hữu cơ Quốc tế (IFOAM), nông nghiệp hữu cơ là hệ thống đồng bộ hướng tới thực hiện các quá trình với kết quả bảo đảm hệ sinh thái bền vững, thực phẩm an toàn, dinh dưỡng tốt, nhân đạo với động vật và công bằng xã hội, không sử dụng các hóa chất nông nghiệp tổng hợp và các chất sinh trưởng phi hữu cơ, tạo điều kiện cho sự chuyển hóa khép kín trong hệ canh tác, chỉ được sử dụng các nguồn hiện có trong nông trại và các vật tư theo tiêu chuẩn của quy trình sản xuất.
Theo nghị định số 109/2018/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 29/8/2018, nông nghiệp hữu cơ là hệ thống sản xuất bảo vệ tài nguyên đất, hệ sinh thái và sức khỏe con người, dựa vào các chu trình sinh thái, đa dạng sinh học thích ứng với điều kiện tự nhiên, không sử dụng các yếu tố gây tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái; là sự kết hợp giữa kỹ thuật truyền thống và tiến bộ khoa học để làm lợi cho môi trường chung, tạo mối quan hệ công bằng và cuộc sống cân bằng cho mọi đối tượng trong hệ sinh thái. Các nguyên tắc cơ bản của sản xuất nông nghiệp hữu cơ. IFOAM đưa ra bộ các nguyên tắc căn bản của nông nghiệp hữu cơ gồm 4 nguyên tắc chính bao gồm: - Nguyên tắc lành mạnh: Nông nghiệp hữu cơ nên phát triển theo hướng duy trì và nâng cao sức khỏe của đất, thực vật, động vật, con người và hành tinh như là một thể thống nhất. Nguyên tắc này chỉ ra rằng sức khỏe của cá nhân và cộng đồng không thể tách rời khỏi sức khỏe của hệ sinh thái.
Sức khỏe là sự nguyên vẹn và sự toàn vẹn của hệ sinh thái bao gồm nhiều yếu tố như: giảm thiểu bệnh tật, nâng cao sự miễn dịch, khả năng phục hồi tái tạo, liên kết văn hóa xã hội và phúc lợi. - Nguyên tắc sinh thái: Nông nghiệp hữu cơ phải được dựa trên hệ sinh thái sống và duy trì trạng thái cân bằng. Nguyên tắc này chỉ ra sản xuất là dựa trên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nguyên lý sinh thái tự nhiên. Nuôi dưỡng và thành quả đạt được thông qua các hệ sinh thái của môi trường sản xuất cụ thể.
Nông nghiệp hữu cơ nên phù hợp với chu kỳ và cân bằng sinh thái trong tự nhiên và tăng cường tái sử dụng để duy trì và cải thiện chất lượng môi trường và bảo tồn tài nguyên. Nông nghiệp hữu cơ nên đạt được sự cân bằng sinh thái thông qua việc thiết kế các hệ thống canh tác, thành lập và duy trì môi trường sống đa dạng. - Nguyên tắc về sự công bằng: Nông nghiệp hữu cơ nên xây dựng các mối quan hệ để đảm bảo sự công bằng đối với môi trường chung. Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng những người tham gia sản xuất nông nghiệp hữu cơ nên tiến hành các mối quan hệ giữa các bên một cách công bằng ở tất cả các cấp và tất cả các bên – người nông dân, công nhân, bộ vi xử lý, nhà phân phối, thương nhân và người tiêu dùng nhằm cung cấp tất cả mọi người tham gia cuộc sống tốt hơn xóa đói giảm nghèo.
Ngoài ra đói với động thực vật trong hệ sinh thái phải được cung cấp các điều kiện và cơ hội sống phù hợp với tự nhiên. - Nguyên tắc chăm sóc: Nông nghiệp hữu cơ cần được quản lý một cách thận trọng và có trách nhiệm bảo vệ sức khỏe và phúc lợi của các thế hệ hiện tại, tương lai và môi trường. Nguyên tắc này chỉ ra rằng việc gia tăng năng suất có thể được thực hiện nhưng không hàm chứa nguy cơ tác động nguy hại đến sức khỏe và hệ sinh thái. Nông nghiệp hữu cơ nên phòng ngừa rủi ro bằng cách áp dụng công nghệ phù hợp và từ bỏ các phương pháp có rủi ro cao, chẳng hạn như kỹ thuật di truyền.
Quyết định phải phản ánh các giá trị và nhu cầu của tất cả những người có thể bị ảnh hưởng, thông qua quá trình minh bạch và có sự tham gia. Các tiêu chuẩn cơ bản trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Trong thời gian gần đây, nông nghiệp Việt Nam và thế giới đã có những bước tiến nhất định trong việc canh tác hữu cơ. Tiêu biểu là ngày càng có nhiều mô hình với nhiều quy mô sản xuất được mở ra, chủng loại nông sản trong canh tác hữu cơ cũng ngày càng đa dạng.
Từ đó, đòi hỏi phải có những tiêu chuẩn, quy định về chất lượng cho canh tác hữu cơ. * Trên thế giới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - USDA (Chứng nhận hữu cơ của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, Ủy ban Hữu cơ Quốc gia) USDA là chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ nghiêm ngặt nhất với việc phải có trên 95% thành phần hữu cơ trong sản phẩm. Ngoài ra, chứng nhận này cũng không cho phép sử dụng chất bảo quản tổng hợp và hầu hết các thành phần hóa học khi chế biến. Tất cả các hoạt động hữu cơ phải chứng minh được họ đang bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học.
Cụ thể: - Cây trồng hữu cơ: các tia bức xạ, bùn thải, phân bón tổng hợp, thuốc trừ sâu bị cấm, các sinh vật biến đổi gen không được sử dụng. - Chăn nuôi hữu cơ: các nhà sản xuất phải đáp ứng các tiêu chuẩn sức khỏe và an toàn động vật, không sử dụng thuốc kháng sinh hoặc chất kích thích tăng trưởng, phải sử dụng 100% thức ăn hữu cơ và đề phòng các động vật bên ngoài tới gần. - Thực phẩm đa thành phần hữu cơ: chứng nhận USDA xác nhận các sản phẩm có ít nhất 95% thành phần chứng nhận hữu cơ. - PGS trên thế giới PGS được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới như: Hoa Kỳ, Ấn Độ, Brazil, New Zealand, Argentina, Peru… Tại mỗi quốc gia, các tiêu chí sẽ có một số nét khác biệt để phù hợp nhưng nhìn chung, các yêu cầu cơ bản về quá trình canh tác, nguồn đầu vào, chất lượng sản phẩm, … đều được yêu cầu nghiêm ngặt.
- IFOAM (Liên đoàn Quốc tế các phong trào canh tác nông nghiệp hữu cơ) IFOAM là một tổ chức phi lợi nhuận đã thiết lập các tiêu chuẩn hữu cơ trên toàn cầu từ năm 1980. Chứng nhận của IFOAM được quốc tế công nhận là xác minh năng lực cho các tổ chức chứng nhận hữu cơ. IFOAM đã thiết lập các yêu cầu chứng nhận hữu cơ đầu tiên vào năm 1992, và đã hình thành các chứng nhận được thực hiện ở nhiều quốc gia và khu vực trong đó có Việt Nam với Chứng nhận thực phẩm hữu cơ PGS Việt Nam. - Soil Association (Anh) Đây là tiêu chuẩn yêu cầu tất cả các sản phẩm được chứng nhận phải thể hiện tỉ lệ hữu cơ trên nhãn sản phẩm.
Một sản phẩm được gọi là hữu cơ khi sản phẩm đó phải chứa 95% thành phần hữu cơ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Soil Association không tính thành phần nước trong sản phẩm nhưng nếu nước được dùng để tạo ra một thành phần nào đó (chẳng hạn như nước gốc thực vật floral water) thì trọng lượng của nước so với trọng lượng của loại thực vật được sử dụng sẽ quyết định tỷ lệ hữu cơ. Cách này nhằm ngăn ngừa việc các nhà sản xuất làm tăng tỉ lệ thành phần hữu cơ bằng nước gốc thực vật. - Cosmebio (Pháp) Tiêu chuẩn này yêu cầu các sản phẩm phải chứa 95% thành phần từ nông nghiệp hữu cơ mới được công nhận.
Trong đó, 10% tổng trọng lượng của sản phẩm (bao gồm cả nước) phải là hữu cơ. Chỉ cho phép tối đa 5% là thành phần tổng hợp. Cosmebio dành riêng cho các nhà sản xuất của Pháp và được chứng nhận bởi Eco- cert. Chứng nhận của Eco-cert có giá trị đối với các nhà sản xuất trên toàn thế giới.
* Tại Việt Nam: - PGS (Hệ thống đảm bảo cùng tham gia – Participatory guarantee system) Là Hệ thống đảm bảo có sự tham gia – PGS (Participatory Guarantee System) hiện đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Hệ thống đảm bảo này dựa vào sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và con người có liên quan trực tiếp vào chuỗi cung cấp hữu cơ. Tại Việt Nam, tiêu chuẩn này được vận dụng trong dự án “Phát triển khung sản xuất và thị trường cho nông nghiệp hữu cơ Việt Nam” kéo dài 7 năm do tổ chức ADDA tài trợ và phối hợp thực hiện cùng Hội Nông Dân từ cấp cơ sở đến Trung Ương. Là một hệ thống được Liên đoàn các phong trào Nông Nghiệp Hữu cơ (IFOAM) phát triển và hướng dẫn.
- Tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ quốc gia: Bộ Khoa học và công nghệ đã chính thức ban hành bộ tiêu chuẩn Việt Nam đầu tiên dành riêng cho sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và ghi nhãn sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có hiệu lực bắt đầu từ 29/12/2017. Đây là cơ sở quan trọng để người nông dân thực hành nông nghiệp hữu cơ và căn cứ vào đó, các cơ quan chức năng có thể kiểm tra, kiểm soát việc sản xuất và kinh doanh các mặt hàng hữu cơ trong thời gian tới. Việc xây dựng các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nêu trên thực hiện trên cơ sở tham khảo các tiêu chuẩn quốc tế về nông nghiệp hữu cơ (CODEX, IFOAM), quy định và tiêu chuẩn khu vực (EU, ASEAN), tiêu chuẩn của Mỹ, Nhật Bản hay các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippines, Trung Quốc…, đảm bảo hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài. Khái niệm về rau hữu cơ.
Khái niệm về RHC được đưa ra khoảng những năm 1940 khi những người tiên phong tìm ra phương pháp canh tác mới gọi là “canh tác hữu cơ” nhằm cải tiến phương pháp canh tác truyền thống. Đây là thời điểm trước khi phát minh ra các hóa chất tổng hợp sử dụng trong nông nghiệp như phân bón hóa học và thuốc trừ sâu. Đến những năm 1970, cuộc “Cách mạng xanh” trong nông nghiệp bắt đầu bộc lộ những mặt trái do lạm dụng hóa chất trong sản xuất làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe của người tiêu dùng. Do vậy, người tiêu dùng càng nhận thức rõ hơn lợi ích của nông nghiệp hữu cơ.
Đến nay, chưa có một định nghĩa chính thức nào về RHC, tuy nhiên có thể hiểu RHC là sản phẩm sản xuất theo nguyên lý của nông nghiệp hữu cơ.