phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 04 chƣơng nhƣ sau: hƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý rừng bền vững hƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu hƣơng 3: Thực trạng quản lý rừng bền vững tại công ty lâm nghiệp Hoà Bình hƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rừng bền vững tại công ty lâm nghiệp Hoà Bình 3 C ƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌN ÌN NG ÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ N NG ỆM T ỰC T ỄN VỀ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý rừng bền vững Quản lý rừng bền vững là chủ đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, các học giả, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu trên nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Gough và cộng sự (2008) đã tìm hiểu và phân tích các tiêu chí về quản lý rừng bền vững.
Nghiên cứu chỉ ra rằng phạm vi quản lý rừng bền vững đã đƣợc xác định bởi một loạt các tiêu chí và chỉ số, mỗi tiêu chí áp dụng cho các nhu cầu và tình huống nhất định của địa phƣơng. ồng thời, kỳ vọng của công chúng đối với việc quản lý rừng ngày càng đƣợc cải thiện và các chỉ số mới liên tục đƣợc đề xuất. ó thể dựa vào kiến thức chuyên môn đƣợc thể hiện bằng các tiêu chí và sơ đồ chỉ số khác nhau để xác định một tập hợp các chỉ số có khả năng phù hợp với hầu hết các tình huống. Nghiên cứu đã xác định rằng các chỉ số kinh tế - xã hội và văn hóa của quản lý rừng bền vững là đặc biệt yếu và đề xuất sử dụng các chỉ số về vốn xã hội và tạo ra một tiêu chí xử lý cụ thể.
Pei và cộng sự (2009) quan tâm tới khía cạnh ứng dụng kiến thức truyền thống trong quản lý rừng. Quản lý rừng đã đƣợc xác định một cách hữu ích về sản xuất, sử dụng và phân phối sản phẩm, và các cơ cấu tổ chức hoặc thể chế mà chúng đƣợc thực hiện. ả khía cạnh kỹ thuật và xã hội của quản lý rừng đều đƣợc coi là các bộ phận của một hệ thống duy nhất. Kiến thức truyền thống về sử dụng và quản lý rừng vẫn có một vai trò quan trọng trong việc quản lý rừng ngày nay.
iều này là do các hoạt động truyền thống đƣợc cho là thƣờng thuận lợi cho việc bảo tồn và sử dụng bền vững. Do đó, việc thiết lập một khuôn khổ để đánh giá sự đóng góp của kiến thức truyền thống đối với công tác quản lý rừng ngày nay là rất có giá trị. Theo đó, nghiên cứu đề xuất một khuôn khổ, dựa trên thông tin về thực vật học, với các chỉ số định lƣợng và định tính đƣợc đề xuất cho các biến số khác nhau liên quan đến tri thức truyền thống. 4 MacDicken và cộng sự (2015) chỉ ra rằng quản lý rừng bền vững là chuỗi công việc ngƣời liên quan đến nhiều từ sản xuất hàng hóa và dịch vụ từ rừng cho thế hệ hiện tại đến thế hệ tƣơng lai.
Lời hứa về sự bền vững bắt nguồn từ hai tiền đề: thứ nhất là các hệ sinh thái có tiềm năng tự đổi mới và thứ hai, các hoạt động kinh tế và nhận thức xã hội hoặc các giá trị xác định sự tƣơng tác của con ngƣời với môi trƣờng là những lựa chọn có thể đƣợc sửa đổi để đảm bảo năng suất và sức khỏe lâu dài của hệ sinh thái. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc lập kế hoạch quản lý rừng và giám sát các kế hoạch đã tăng lên đáng kể nhƣ chứng chỉ quản lý rừng, vƣợt tổng số hơn 430 triệu ha vào năm 2014. Tuy nhiên, 90% chứng chỉ quốc tế đƣợc xác minh là ở các lĩnh vực khí hậu ôn đới và khắc nghiệt - chỉ 6% vĩnh viễn. ác khu rừng ở miền nhiệt đới đã đƣợc chứng nhận vào năm 2014.
Kết quả cho thấy rằng cần phải làm việc nhiều hơn nữa để mở rộng quy mô và chiều sâu của công việc nhằm thiết lập các điều kiện thuận lợi hỗ trợ quản lý rừng bền vững về lâu dài và đề xuất những nhu cầu đó ở đâu là lớn nhất. Juan Manuel Torres – Rojo và cộng sự (2016) đã chỉ ra rằng công tác quản lý rừng đƣợc đặt trong bối cảnh sinh thái, văn hoá, chính trị, kinh tế và công nghệ đa dạng và phức tạp, do đó cần phải có cơ chế điều hành và quản lý đa dạng. ách tiếp cận mới đối với quản lý rừng hiện nay bao gồm sự chú trọng nhiều hơn vào lâm nghiệp dựa vào cộng đồng, xem xét các thị trƣờng cho các sản phẩm và dịch vụ lâm nghiệp, cũng nhƣ tăng cƣờng khả năng phục hồi, năng lực học tập và thích ứng tổng thể, đồng thời giảm thiểu các nguy cơ, rủi ro và tính dễ bị tổn thƣơng của rừng và các cộng đồng phụ thuộc vào rừng Nguyễn Tiến Thành (2007) đã tiến hành nghiên cứu về quy hoạch kinh doanh rừng theo tiêu chuẩn quản lý bảo vệ rừng tại Lâm trƣờng Yên Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra rằng giai đoạn đầu thế kỷ XX, vai trò của ngƣời dân trong công tác quản lý rừng chƣa đƣợc chú ý tới.
Do vậy, ngƣời dân chỉ biết khai thác lâm sản và phá rừng lấy đất canh tác nƣơng rẫy mà không hề quan tâm tới việc xây dựng và phát triển vốn rừng dẫn tới tài nguyên rừng trong giai đoạn này bị suy thoái nghiêm trọng. Việc quản lý rừng 5 theo phƣơng thức tập trung đã không mang lại kết quả trong quản lý tài nguyên rừng nhƣ mong muốn của các nhà quản lý, ngƣời ta bắt đầu nhận thấy tầm quan trọng của ngƣời dân, cộng đồng địa phƣơng trong việc tham gia quản lý tài nguyên rừng đó là cơ sở của sự ra đời phƣơng thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng và khái niệm đồng quản lý trong tài nguyên rừng cũng đƣợc ra đời từ đó. Nguyễn Ngọc Lung (2008) trong tài liệu tập huấn tại tổng công ty Giấy Việt Nam chủ đề “Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam, ơ hội và thách thức” đã nhận định: chứng chỉ rừng là hệ quả cuối cùng của QLRBV, vì nếu quản lý rừng chƣa đạt đƣợc các tiêu chuẩn bền vững thì không có R. Trong điều kiện ở Việt Nam khi diện tích đất chƣa ổn định, độ che phủ chƣa đủ, chất lƣợng và năng suất rừng còn thấp so với tiềm năng, quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp chƣa đủ tầm nhìn nên luôn phải điều chỉnh.
Vì vậy, trong chƣơng trình QLRBV cần thiết kế thêm một giai đoạn là “xây dựng các điều kiện cần và đủ” để tiến hành quản lý bền vững hai đối tƣợng rừng tự nhiên và rừng trồng. Phải song song vừa xây dựng điều kiện, vừa tiến hành quản lý rừng bền vững theo các tiêu chí tiên tiến quốc tế lại phù hợp với pháp luật và truyền thống quốc gia Báo cáo “ ánh giá tác động môi trƣờng xã hội của dự án đầu tƣ trồng cây cao su, trồng rừng, QLBVR ồng Phú - ăk Nông” năm 2010 của ông ty cổ phần cao su ồng Phú đã chỉ ra rằng : “Trong bối cảnh rừng bị tàn phá nham nhở thì việc hình thành dự án vừa tăng thu nhập cho ngƣời dân và xã hội, phục hồi và cải tạo đất của dự án là những tác động tích cực. Dự án đã tạo nên một cảnh quan mới với tiến trình phát triển nhanh hơn góp phần làm tăng mức dân trí và tăng các hoạt động trao đổi văn hóa nhân dân trong khu vực. Năm 2008 nhóm tác giả Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Văn Dũng, Nguyễn Văn Song, Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Hữu Dũng, Phạm Ngọc Tuấn, Trần Thị Hoa và oàng ảnh đã nghiên cứu: “Báo cáo về đánh giá một số tác động về môi trƣờng, kinh tế và xã hội của các chính sách quốc gia về buôn bán động vật, thực vật hoang dã ở Việt Nam”.
Nghiên cứu này đã đề cập đến một phần nội dung nhỏ về các chính sách quản lý, bảo vệ và buôn bán động thực vật hoang dã, trên cơ sở đó đánh giá các tác động của chính sách này đối với kinh tế, xã hội và môi trƣờng 6 Hà Sỹ ồng (2017) “ ánh giá quản lý rừng bền vững và giám sát thực hiện sau khi đƣợc cấp chứng chỉ rừng tại ông ty lâm nghiệp Bến Hải, tỉnh Quảng Trị” đã chỉ ra rằng mục tiêu kinh tế trong việc lập kế hoạch quản lý rừng cho TLN đó là “Sử dụng có hiệu quả rừng và đất rừng với chi phí hợp lý và lợi nhuận cao, đảm bảo tính liên tục, ổn định, lâu dài; hạn chế đến mức thấp nhất những mâu thuẫn giữa 3 mặt kinh tế, môi trƣờng và xã hội”. Nguyễn Thanh Hà và cộng sự (2018) chỉ ra rằng tiêu chí và chỉ số về quản lý rừng bền vững đòi hỏi phải phù hợp với các cấp địa phƣơng. Trong hai thập kỷ qua, các bộ tiêu chí và chỉ tiêu đƣợc xây dựng đã trở thành những công cụ để nâng cao công tác quản lý rừng bền vững. ác phƣơng pháp tiếp cận từ trên xuống đƣợc sử dụng chủ yếu để đo lƣờng sự thành công của quản lý rừng.
ác bộ tiêu chí và chỉ số chủ yếu đƣợc xây dựng ở cấp quốc gia để mô tả và giám sát tình trạng và xu thế quản lý rừng nên không nắm bắt đƣợc nhiều tiêu chí và chỉ số quan trọng đối với ngƣời dân địa phƣơng, những ngƣời có kinh nghiệm trong quản lý rừng đầu tiên và có những định nghĩa về sự bền vững theo cách của riêng họ. Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã sử dụng phƣơng pháp tiếp cận từ dƣới lên có sự tham gia của ngƣời dân địa phƣơng, nghiên cứu này nhằm mục đích xây dựng một bộ các tiêu chí và chỉ số kinh tế phù hợp để quản lý rừng bền vững ở cấp địa phƣơng áp dụng cho việc quản lý bền vững rừng nhiệt đới. Bộ tiêu chí và chỉ số kinh tế xây dựng đƣợc bao gồm bảy tiêu chí và 24 chỉ số, đƣợc sử dụng nhƣ là một gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các tiêu chí và chỉ số cho quản lý rừng bền vững ở Việt Nam có tính đến tiếng nói và sự lựa chọn của ngƣời dân địa phƣơng.