mở đầu của quá trình mua lại, sáp nhập hoặc thay thế ban quản lý ngân hàng. Rủi ro tín dụng có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản với việc hàng loạt nguời gửi tiền rút tiền ra khỏi ngân hàng, buộc ngân hàng phải đóng cửa và tuyên bố phá sản. Tổn thất ở mức thấp, làm giảm quỹ dự phòng, giảm vốn và quỹ của ngân hàng. Để đối phó với các tình huống trên, ngân hàng có thể phải giảm tiền luơng (hoặc chi phí khác), giảm lao động.
dẫn đến ảnh huởng không tốt về nhân sự, thị truờng nguồn hoặc công nghệ. Đối với nền kinh tế: Hoạt động của ngân hàng có liên quan đến hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, đến tất cả các doanh nghiệp và toàn bộ các tầng lớp dân cu. Vì vậy, rủi ro tín dụng xảy ra có thể làm phá sản một vài ngân hàng và có khả năng phát sinh lây lan sang các ngân hàng khác, tạo cho dân chúng một tâm lý sợ hãi. Khi đó, dân chúng sẽ đua nhau đến ngân hàng rút tiền truớc thời hạn, điều đó cũng có thể đua đến sự phá sản của đồng loạt các ngân hàng, ảnh huởng đến nguồn vốn phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thiếu vốn sẽ gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, sản xuất giảm sút sẽ dẫn đến đời sống của nguời công nhân gặp khó khăn. Đối với nền kinh tế, nó sẽ ảnh huởng trực tiếp đến cung hàng hóa và giá cả các mặt hàng, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định. QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Sự cần thiết của quản lý rủi ro tín dụng trung dài hạn Quản lý rủi ro là hoạt động trọng tâm trong các tổ chức tài chính - ngân hàng, bởi kiểm soát và quản lý rủi ro chặt chẽ đồng nghĩa với việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn hoạt động.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, nếu không chấp nhận rủi ro thì không thể tạo ra các cơ hội đầu tư và kinh doanh mới. Do đó, quản lý rủi ro là một yêu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại và đây cũng là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Quản lý rủi ro là quá trình xác định, phân tích và chấp nhận hoặc hạn chế những nguy cơ tiềm ẩn trong các quyết định đầu tư và huy động vốn. Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình đo lường, đánh giá rủi ro trong quá trình huy động vốn và cho vay; theo dõi, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời để đảm bảo quyền lợi của ngân hàng nếu có bất kỳ một sự thay đổi hoàn cảnh nào cho đến khi khoản vay được hoàn trả.
Chính sách quản lý rủi ro tín dụng có tính chất phòng ngừa, ngăn ngừa và làm giảm những tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, đảm bảo các khoản cho vay được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn. Quản lý rủi ro tín dụng là một quá trình liên tục bắt đầu từ khâu thẩm định đánh giá trước phê duyệt khoản vay; giải ngân; theo dõi khoản vay (bao gồm cả việc đưa ra các dấu hiệu cảnh báo sớm về tình trạng của khách hàng), quản lý các khoản nợ có vấn đề, nợ xấu (bao gồm cả việc đưa ra các giải pháp, phương án thu hồi nợ nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại cho ngân hàng) cho đến khi thu hồi vốn; trong đó: - Kiểm soát trước khi cho vay bao gồm: Xây dựng chính sách và thủ tục cấp tín dụng bằng văn bản; Thẩm định, đánh giá khoản vay trước khi cho vay; Phê duyệt khoản vay. - Kiểm soát trong khi cho vay bao gồm: Xác lập Hợp đồng tín dụng; Giám sát quá trình giải ngân; Giám sát tín dụng. 12 - Kiểm soát sau khi cho vay: Theo dõi, đôn đốc thu hồi nợ; Tái xét cấp tín dụng và định hạng tín dụng; Kiểm soát tín dụng nội bộ độc lập; Đánh giá lại chính sách tín dụng.
Quản lý rủi ro tín dụng phải đuợc quan tâm, đáp ứng các yêu cầu và đạt đuợc các mục tiêu sau: - Tạo lập đuợc một danh mục tín dụng hợp lý: có khả năng sinh lời cao, ít rủi ro và khi cần thiết có thể chứng khoán hoá để hỗ trợ thanh khoản. - Tạo sự chủ động, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bộ phận tác nghiệp nhằm tìm kiếm các khoản vay có khả năng sinh lời cao và ít rủi ro. - Có những quy định để thực hiện thống nhất, minh bạch các buớc công việc trong quá trình cho vay; có các quy định hợp lý về cơ cấu, tỷ lệ. - Đảm bảo phản ảnh minh bạch, chính xác chất luợng danh mục tín dụng, trích đủ dự phòng để bù đắp những rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay.
- Có hệ thống kiểm tra, kiểm soát thích hợp để phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các rủi ro phát sinh đối với danh mục tín dụng. Nội dung quản lý rủi ro tín dụng trung dài hạn 1. Nhận biết rủi ro tín dụng trung dài hạn Rủi ro tín dụng trung dài hạn ẩn chứa trong các khoản cho vay có vấn đề, đuợc biểu hiện bằng nhiều dấu hiệu. Qua thực tiễn hoạt động tín dụng, một số dấu hiệu cơ bản thể hiện khó khăn tài chính của nguời đi vay chính là những cảnh báo đối với cán bộ tín dụng, với ngân hàng.
- Việc trì hoãn nộp báo cáo tài chính: Báo cáo tài chính là tài liệu quan trọng giúp ngân hàng hiểu đuợc tình hình sản xuất kinh doanh năng lực tài chính của nguời đi vay, báo hiệu khả năng hoàn trả các khoản nợ. Việc trì hoãn nộp báo cáo tài chính có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau nhung có thể thấy đuợc tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có 13 những dấu hiệu không bình thuờng. Vì vậy, doanh nghiệp không muốn ngân hàng biết sớm về sự sút năng lực tài chính của mình. - Gia tăng bất bình thuờng hàng tồn kho, các khoản bán chịu và các khoản nợ: Định mức tồn kế hoạch nguyên liệu, hàng hoá hợp lí là điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp đảm bảo ổn định sản xuất kinh doanh, song nếu mức tồn kho vuợt quá mức giới hạn cho phép chứng to khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là không bình thuờng.
Sự gia tăng hàng tồn kho nhu giá cả, chất luợng, chủng loại hàng hoá. dẫn đến doanh thu, thu nhập kém. Đồng thời với sự gia tăng tồn kho, giảm sút doanh thu thì các khoản vay cũng gia tăng chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp giảm sút làm cho khả năng trả nợ ngân hàng là khó khăn. - Giảm bất thuờng giá bán: Điều này nếu không nằm trong chiến luợc marketing của doanh nghiệp thì tức là doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính.
- Hoàn trả nợ vay và lãi không đúng hạn: Khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thì luân chuyển vốn cũng mất ổn định dẫn đến khả năng thanh toán gặp nhiều khó khăn không thể hoàn trả nợ vay và lãi chi cho ngân hàng đúng kỳ hạn. Nếu tình trạng này diễn ra thuờng xuyên và mức độ ngày càng lớn thì đây chính là dấu hiệu rõ ràng nhất của rủi ro tín dụng. Ngoài các dầu hiệu trên thì còn rất nhiều yếu tố khác nhu doanh nghiệp thay đổi tổ chức, công nhân không có việc làm hay quan hệ giữa ngân hàng và nguời vay trở nên kém thân thiện. cũng là những dấu hiệu của rủi ro tín dụng, đòi hỏi các cán bộ tín dụng phải sát với thực tiễn và có những biện pháp thích hợp làm giảm nguy cơ rủi ro có thể xảy ra.
Các công cụ đo lường rủi ro tín dụng trung dài hạn Phương pháp Mô hình điểm số Z: là phuơng pháp dùng làm thuớc đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với nguời vay, phụ thuộc vào: chỉ số tài chính 14 của người vay, tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ trong quá khứ.0X5 - X1 là hệ số vốn lưu động /tổng tải sản - X2 là hệ số lãi chưa phân phối/tổng tài sản - X3 là hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản - X4 là hệ số giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu/giá trị hạch toán của tổng nợ - X5 là hệ số doanh thu/tổng tài sản Điểm Z càng cao thì xác suất vỡ nợ càng thấp, nếu Z thấp hoặc là một số âm là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm nguy cơ rủi ro vỡ nợ cao.8: khách hàng có khả năng rủi ro cao 1.8<Z<3: không xác định được Z>3: khách hàng không có khả năng vỡ nợ Bất kỳ doanh nghiệp nào có Z<1.8 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao. Phương pháp này đơn giản song mô hình này chỉ cho phép phân loại khách hàng vay có rủi ro và không có rủi ro. Trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không được trả lãi cho đến mất hoàn toàn cả vốn gốc và lãi vay. Ngoài ra không tính đến các yếu tố khó định lượng như điều kiện kinh doanh, thịt rường thay đổi, danh tiếng khách hàng, mối quan hệ gắn bó lâu dài với khách hàng, sự biếnđộng của chu kỳ kinh tế.
Phương pháp đánh giá rủi ro khoản vay: Phương pháp ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ IRB (Internal Ratings Base). 15 EL = EAD x PD x LGD Trong đó: EL (expected loss) là tổn thất tín dụng dự kiến; EAD (Exposure at Defaut) là tổng du nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả đuợc nợ; PD (Probability of default) là xác suất khách hàng không trả đuợc nợ; LGD (Loss given default) là tỷ trọng tổn thất uớc tính. PD - xác suất không trả được nợ Cơ sở của xác suất này là các số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi đuợc. Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán đuợc nợ trong vòng một năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu du nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là 5 năm truớc đó.