Chương I: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngaoif do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Theo quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết ii đinh 450/QĐ-HĐTV-XLRR ngày 30/05/2014 của Hội đồng thành viên: RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động 6 ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Như vậy, RRTD là những biến cố không mong đợi xảy ra và gây tổn thất đối với tài sản của ngân hàng. Xét về khía cạnh của ngân hàng, thì RRTD đồng nghĩa với thu nhập dự tính của ngân hàng từ các tài sản có sinh lời không được hoàn trả đầy đủ cả về mặt số lượng và thời hạn. Có nhiều quan điểm cho rằng, RRTD chỉ có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ.
Do vậy, việc kiểm soát, kiềm chế thậm chí chấp nhận tỷ lệ rủi ro hợp lý mới là điều kiện cần thiết để ngân hàng đạt được kết quả hoạt động tốt dựa trên cơ sở quản lý rủi ro một cách hiệu quả. Phân loại rủi ro tín dụng RRTD được phân loại bằng nhiều cách khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu, RRTD được phân loại như sau: * Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân chia thành các loại sau: - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro nghiệp vụ, rủi ro lựa chọn và rủi ro bảo đảm. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị của tài sản bảo đảm. - Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là 7 do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng * Theo phương diện quản lý thì RRTD được chia thành hai loại: - Rủi ro tín dụng có thể kiểm soát được: là loại RRTD mà ngân hàng có thể phần nào dự đoán được chủ thể gây ra rủi ro đó, ước lượng tính được mức độ ảnh hưởng, dự kiến được thời gian chúng phát sinh và từ đó có biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế ở mức thấp nhất. - Rủi ro tín dụng không thể kiểm soát được: là loại RRTD mà các ngân hàng không thể dự đoán được, không biết chúng sẽ xảy ra vào thời điểm nào, cũng không thể tính toán được một cách chính xác nhất những ảnh hưởng mà chúng gây ra.
Những rủi ro tín dụng loại này thường không do con người gây ra mà chủ yếu là do những bất lợi về các yếu tố tự nhiên gây ra như hạn hán, lũ lụt, mất mùa, hoả hoạn. Các NHTM thường phải tập trung vào ngăn chặn những rủi ro có thể kiểm soát được, còn rủi ro không thể kiểm soát được thì chỉ còn cách chống đỡ. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 1. Nguyên nhân khách quan Mỗi doanh nghiệp luôn hoạt động trong môi trường vĩ mô và vi mô nhất định.
Hoạt động của doanh nghiệp không những phản ánh mà còn chịu tác động đáng kể vào môi trường này. * Môi trường vĩ mô: Các yếu tố vĩ mô tác động đến hoạt động kinh doanh của khách hàng và ngân hàng được phân tích theo mô hình PEST gồm: Political (môi trường chính trị và pháp luật), Economics (môi trường kinh tế), Sociocultrural (môi trường văn hoá- xã hội), và Technological (môi trường công nghệ). Bốn yếu tố này là khách quan, nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp và ngành, nhưng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ của khách hàng. - Môi trường chính trị và pháp luật: Sự thay đổi thể chế, pháp luật, sự bất ổn chính trị,.có thể đe doạ đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào.
Ngoài luật pháp trung ương, các doanh nghiệp còn phải tuân thủ theo pháp luật của 8 khu vực. Đối với công ty hoạt động trên bình diện quốc tế, những yếu tố này trở nên rất phức tạp. Họ phải phân tích sự ổn định của nền chính trị, biết các luật lệ địa phuơng ảnh huởng đến ngành cũng nhu doanh nghiệp là nhu thế nào. - Môi truờng kinh tế: Thông thuờng các doanh nghiệp luôn dựa vào môi truờng kinh tế để ra quyết định kinh doanh và chiến luợc đầu tu.
Vì vậy, môi truờng kinh tế không những có ý nghĩa đối với doanh nghiệp mà còn đối với ngân hàng cho vay. Các yếu tố thuộc môi truờng kinh tế tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng gồm: tính chu kỳ của nền kinh tế; các biến số kinh tế vĩ mô nhu lãi suất lạm phát, tỷ giá; các chính sách của chính phủ nhu: tiền luơng, đầu tu công, các huớng uu tiên đầu tu, miễn giảm thuế trợ cấp, triển vọng kinh tế nhu mức gia tăng GDP, tỷ lệ thất nghiệp,. - Môi truờng văn hoá và xã hội: Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hoá và các yếu tố xã hội đặc trung, những yếu tố này phản ánh đặc biệt của nguời tiêu dùng và quyết định đến đầu ra của các doanh nghiệp. Do đó, đặc điểm giá trị văn hoá- xã hội của các nhóm khách hàng khách nhau nhu tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khoẻ, chế độ dinh duỡng, thu nhập trung bình, phân phối thu nhập, lối sống, học thức, các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống.
tác động đến định vị sản phẩm/ dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, qua đó tác động đến sự thành công hay thất bại của khách hàng vay vốn. - Môi truờng công nghệ: Không còn nghi ngờ gì nữa, công nghệ đã và đang là yếu tố tác động trực tiếp và to lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ứng dụng và nắm bắt đuợc xu huớng phát triển công nghệ là một trong những yếu tố then chốt để tồn tại và phát triển. * Môi trường vi mô: Mỗi ngành kinh doanh đều có những lợi thế và rủi ro riêng, trong đó có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia hoạt động tạo nên môi truờng vi mô vừa hợp tác vừa cạnh tranh khốc liệt.
Môi truờng vi mô (môi truờng ngành) tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn khi gặp các rủi ro: - Từ phía nhà cung cấp: Nhu không giao hàng, giao hàng chậm, giao hàng 9 kém chất lượng, không thực hiện bảo hành bảo trì như thoả thuận, không cung cấp hàng phụ tùng thay thế. - Từ phía khách hàng mua: Huỷ đơn đặt hàng trong khi hàng hoá đã được sản xuất, nhận hàng nhưng không thanh toán, thanh toán chậm dây dưa, quỵt nợ. - Từ phía tài sản đảm bảo: + Tài sản bảo đảm khó định giá do ngân hàng thiếu thông tin, kỹ thuật thẩm định. + Tài sản bảo đảm có tính khả mại thấp, đặc biệt với các tài sản chuyên dụng, đặc chủng.
+ Giá trị TSBĐ biến động theo chiều hướng bất lợi hoặc thay đổi hiện trạng. + Phát sinh tranh chấp về pháp lý, dẫn tới khó khăn trong việc xử lý tài sản. + Khách hàng không có thiện chí giao tài sản, đe doạ cán bộ tín dụng. Nguyên nhân chủ quan - Nguyên nhân từ phía Ngân hàng: Tại Hội sở: Ban hành chính sách tín dụng không hiệu quả, không phù hợp với nền kinh tế, quy chế tín dụng không chặt chẽ để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của ngân hàng.
Chưa có cơ chế cụ thể về kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các chính sách đã ban hành. Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ ngân hàng còn hạn chế: Bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ ngân hàng có nhiệm vụ thường xuyên theo dõi, kiểm tra và giám sát các khoản vay. Tuy nhiên, trên thực tế, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại dưới dạng hình thức, công tác kiểm tra, kiểm soát chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, kiểm tra kiểm soát nội bộ cần phải được xem như một công cụ hữu hiệu trong vấn đề phát hiện, phòng ngừa RRTD.
Tại Chi nhánh: Cán bộ tín dụng không chấp hành đúng quy trình tín dụng như: không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống, thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt tỷ lệ an toàn. Cán bộ tín dụng không kiểm tra giám sát chặt chẽ về việc sử dụng vốn vay 10 và tình hình kinh doanh của khách hàng. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tín dụng yếu kém, dẫn đến việc đánh giá phuơng án SXKD/dự án không chính xác, nên xảy ra tình trạng dự án không thi công mà vẫn cấp tín dụng. Cán bộ tín dụng thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp nhu: thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, nể nang trong quan hệ khách hàng, nhận quà biếu hay nhận tiền hối lộ của khách hàng.
Ngân hàng quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản tín dụng có lợi nhuận cao truớc những khoản tín dụng lành mạnh. Do áp lực canh tranh nên các ngân hàng đã nới lỏng các điều kiện tín dụng để thu hút khách hàng. - Nguyên nhân từ phía khách hàng Sau khi vay đuợc vốn, khách hàng tự ý thay đổi mục đích sử dụng vốn, sử dụng vào các hoạt động có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả đuợc nợ cho ngân hàng. Ngoài ra, trong một số truờng hợp, khi đã có vốn trong tay khiến cho đạo đức khách hàng thay đổi, không còn thiện chí trả nợ cho ngân hàng.