CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUỸ BHXH VÀ QUẢN LÝ QUỸ HƯU TRÍ TỬ TUẤT 1.1 Khái niệm Theo Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/01/2014 thì “Bảo hiểm xã hôi là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của Người lao động (NLĐ) khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Và việc này được thực hiện thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Theo định nghĩa của tổ chức lao động quốc tế (ILO): “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn do bị mất hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết. Hơn nữa BHXH còn bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết”.
Quỹ bảo hiểm xã hội là tập hợp những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH bao gồm NLĐ, NSDLĐ, Nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác như: cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi. hình thành một quỹ tiền tệ tập trung, được sử dụng để chi trả cho những người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập, khả năng lao động, mất việc làm hoặc bị chết và chi phí cho các hoạt động nghiệp vụ BHXH.2 Vai trò quỹ BHXH Bảo hiểm xã hội giúp người lao động và gia đình họ ổn định cuộc sống khi họ gặp khó khăn hoặc mất hay giảm thu nhập. Khi chưa có bảo hiểm xã hội thì người lao động cũng như gia đình họ rất khó khăn mỗi khi xảy ra rủi ro như là tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thực hiện nhiệm vụ sinh con, khi về già hoặc bị 1 chết, lúc đó người lao động không làm việc được, do vậy không có thu nhập, nhờ có bảo hiểm xã hội bù đắp phần thu nhập bị mất của người lao động mà cuộc sống của người lao động được ổn định. Bảo hiểm xã hội là tấm lá chắn giúp họ trong quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất và thu hút được lao động, vì bảo hiểm xã hội đảm bảo chi trả những khoản tiền lớn khi người lao động không may gặp những rủi ro hoặc khi già hết tuổi lao động mà không ảnh hưởng lớn đến tài chính của đơn vị.
(Nguyễn Thị Kim Hà, 2018) Quỹ BHXH hình thành và hoạt động tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc dàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm cho cả chi ngân sách Nhà nước và ngân sách gia đình. Bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động, nên về lâu dài nó góp phần nâng cao năng suất lao động vì cuộc sống của người lao động được đảm bảo ổn định, do đó họ quan tâm hơn trong lao động sản xuất và cảm thấy phấn khởi, từ đó thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển. Đồng thời đảm bảo an toàn xã hội và văn minh xã hội.3 Sử dụng quỹ BHXH Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau: - NSDLĐ đóng góp. Tùy theo điều kiện của từng quốc gia mà NSDLĐ phải đóng BHXH cho NLĐ mà họ đang sử dụng với một tỷ lệ nhất định trên tổng quỹ lương của đơn vị.
Để thực hiện các chế độ BHXH, NLĐ phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho quỹ BHXH. - Nhà nước hỗ trợ thêm, trong trường hợp quỹ BHXH không đủ khả năng chi trả cho người thụ hưởng BHXH thì nhà nước sẽ hỗ trợ. - Tiền sinh lời từ thực hiện đầu tư quỹ BHXH; Thu từ tài trợ viện trợ của cá nhân, tổ chức và các nguồn thu khác. Quỹ BHXH được quản lý thống nhất trong hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 1 được hạch toán riêng và cân đối thu chi từng quỹ.
Mục đích của quỹ BHXH phải đảm nhận chi những khoản chủ yếu như: chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH, khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong quỹ BHXH, chi phí cho bộ máy hoạt động BHXH (tiền lương, chi phí đào tạo…), chi phí đảm bảo các cơ sở vật chất cần thiết và chi phí quản lý khác. Quỹ BHXH phải được tính toán nhằm mục đích đảm bảo các nhu cầu về BHXH, đảm bảo đủ chi trả các trợ cấp BHXH cho những người thụ hưởng hiện tại và những người thụ hưởng trong tương lai. Tỷ lệ, mức độ và các khoản chi trả cho các chế độ BHXH phụ thuộc vào chính sách BHXH đã được luật pháp hóa, trên cơ sở phù hợp với các quy định của các Công ước Quốc tế. Để các hoạt động của cả hệ thống BHXH được diễn ra bình thường, cần phải có các chi phí quản lý và các chi phí này cũng được chi ra từ quỹ BHXH.
Theo quy định Luật BHXH thì quỹ BHXH bắt buộc được hình thành bởi 3 quỹ thành phần để chi trả các chế độ cho người lao động: - Quỹ HTTT được dùng để chi trả lương hưu và đóng BHYT cho người hưởng chế độ hưu trí và trợ cấp tử tuất; - Quỹ TNLĐ, BNN sử dụng chi trả chế độ TNLĐ, BNN; chi trả trợ cấp cho người phục vụ đối tượng TNLĐ; chi trợ cấp các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, công cụ, dụng cụ chỉnh hình và đóng BHYT cho người lao động hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng. - Quỹ ốm đau, thai sản chi trả chế độ ốm đau, lao động nữ trong thời gian mang thai và sinh con.1 Chi trả các khoản trợ cấp BHXH Đây là phần chi trọng yếu của quỹ BHXH. Trong thực hiện chi trả các khoản trợ cấp phải đảm bảo hội đủ các điều kiện và nguyên tắc theo quy định của pháp luật về BHXH. Mức độ thụ hưởng về BHXH được quy định căn cứ vào sự cống hiến, thời gian công tác, điều kiện làm việc, đồng thời cũng căn cứ vào sự suy giảm sức khỏe nhiều hay ít của người lao động trong từng trường hợp và có sự chia sẻ giữa những người tham gia BHXH.
2 Để việc thực hiện cân đối quỹ thành phần trong chi trả các chế độ quỹ BHXH được phân thành 2 loại đó là trợ cấp ngắn hạn và trợ cấp dài hạn, trong đó: - Trợ cấp ngắn hạn: sử dụng chi cho các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, TNLĐ và BNN, trợ cấp công cụ, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện trợ giúp sinh hoạt, trợ cấp thất nghiệp…. - Trợ cấp dài hạn: sử dụng chi trả các chế độ dài hạn như hưu trí; tử tuất, TNLĐ và BNN nặng. Ở Việt Nam, BHXH thực hiện từ năm 1945 và đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Ngày 27/12/1961 Hội đồng chính phủ ban hành Nghị định số 218-CP ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1962.
Điều lệ quy định quỹ BHXH được sử dụng chi trả chế độ cho người lao động tham gia BHXH gồm 6 chế độ gồm: (1) Trợ cấp ốm đau; (2) Trợ cấp thai sản; (3) Trợ cấp TNLĐ và BNN; (4) Trợ cấp thôi việc vì MSLĐ; (5) Hưu trí; (6) Trợ cấp tử tuất. Ngày 26/01/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 về Điều lệ BHXH áp dụng đối với công nhân, viên chức và mọi người lao động theo loại hình BHXH bắt buộc để thực hiện thống nhất trong cả nước và Nghị định số 45/CP ngày 15/07/1995 về việc ban hành điều lệ BHXH đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Điều lệ này quy định việc chi trả trợ cấp BHXH gồm có 5 chế độ: (1) Chế độ ốm đau; (2) Chế độ thai sản; (3) Chế độ TNLĐ-BNN; (4) Chế độ Hưu trí; (5) Chế độ Tử tuất. Ngày 29/06/2006, Quốc hội khóa XI đã ban hành Luật BHXH số 71/2006/QH11.
Đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật được mở rộng, người lao động tham gia BHXH tăng lên. Theo quy định của Luật BHXH số 71/2006/QH11 thì việc chi trả các chế độ được thực hiện cũng gồm 5 chế độ như quy định tại Nghị định số 12/CP nhưng điều kiện và mức hưởng được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH được tính trên cơ sở tiền lương của người lao động và có sự chia sẻ giữa những người tham gia BHXH, chính sách an sinh xã hội được cải thiện đáng kể. 2 Ngày 20/11/2014, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) số 58/2014/QH13, thay thế Luật BHXH số 71/2006/QH11 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luật BHXH số 58/2014/QH13 cũng quy định chi trả các chế độ được thực hiện gồm 5 chế độ như quy định tại Luật BHXH số 71/2006/QH11, nhưng có một số nội dung mới, gồm: Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm; hoàn thiện các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội; đảm bảo sự bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng bảo hiểm xã hội của người lao động ở các thành phần kinh tế; đảm bảo nguyên tắc đóng hưởng, sự bền vững của hệ thống BHXH; tổ chức thực hiện minh bạch, đơn giản, thuận tiện hơn.
Điều kiện hưởng, thời gian hưởng, mức hưởng trong việc thực hiện chi trả chế độ được thực hiện theo hướng có lợi hơn cho người lao động. Trong giai đoạn này quỹ BHXH bao gồm ba quỹ thành phần: - Quỹ HTTT chi trả chế độ hưu trí và tử tuất, đóng BHYT cho người hưởng lương hưu. - Quỹ TNLĐ, BNN chi trả chế độ TNLĐ, BNN; đóng BHYT cho NLĐ nghỉ việc hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng. - Quỹ ốm đau, thai sản chi trả chế độ ốm đau và chế độ thai sản.2 Chi phí quản lý BHXH Đây là khoản chi cho các hoạt động thường xuyên của tổ chức BHXH, bao gồm: - Chi lương cho đội ngũ làm công tác BHXH trong toàn hệ thống; - Chi phí nghiệp vụ BHXH; - Chi nghiên cứu phát triển BHXH; - Chi phí hành chính (điện, nước, văn phòng phẩm….